Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

Install Social-Engineer-Toolkit (Set) On Linux

 Social-Engineer-Toolkit (Set) là gì thì mình không bít nha ! Các bạn tìm hiểu, mình chỉ hướng dẫn cách cài đặt lên Linux Mint 15 thôi .
Các bước thực hiện như sau :
1. chuyển quyền root
sudo -i

2. di chuyển con trỏ đến thư mục " opt"
cd /opt

3.  cài git ( nếu máy bạn chưa cài )
sudo apt-get install git

4. tải  Social-Engineer-Toolkit (Set) về máy :
git clone https://github.com/trustedsec/social-engineer-toolkit/ set/

5. chuyển con trỏ đến thư mục "set" trong "/opt/set/ "
cd /set/

6.  cài đặt
./setup.py install

7. Cài các gói sau :
sudo apt-get install ettercap
sudo apt-get install sendmail
sudo apt-get install openjdk-6-jd

8. mở file "set_config" trong  thư mục " /opt/set/config/ ", chỉ sửa lại vài thứ :

DEPLOY_OSX_LINUX_PAYLOADS=ON ( /OFF )

CUSTOM_LINUX_OSX_PAYLOAD=ON

ETTERCAP_INTERFACE=eth0 ( là kết nối internet của máy bạn, mặc đinh là eth0  )
.....................

8.  Chạy "Social-Engineer-Toolkit (Set)" :

 cd config
setoolkit


9. demo :





Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Giữ an toàn khi giao dịch ngân hàng qua smartphone

Khi smartphone ngày càng trở nên phổ biến, nhiều người bắt đầu sử dụng chúng như là công cụ trong mọi giao dịch, kể cả giao dịch ngân hàng. Đăng nhập vào tài khoản ngân hàng ở bất cứ nơi đâu thật dễ dàng và tiện lợi, cũng như các thông báo được gửi trực tiếp đến điện thoại giúp người dùng xác nhận giao dịch và theo dõi biến động tài khoản. Nhưng những lợi ích thiết thực cũng đi kèm với mối lo về an ninh cho người dùng smartphone. Mạng Wi-Fi bạn dùng liệu có an toàn, bạn có nghe đến virus tấn công smartphone hay làm thế nào để bảo vệ dữ liệu khi bạn bị mất điện thoại?

Sử dụng 3G/4G, tránh xa Wi-Fi không an toàn

Tất cả các nhà mạng cung cấp dữ liệu 3G, 4G đều đảm bảo an toàn cho các kết nối di động của họ với các phương pháp chứng thực và mã hóa. Trong khi đó, mạng Wi-Fi, đặc biệt là ở nơi công cộng, luôn tìm ẩn nguy cơ bị xâm phạm bất cứ khi nào. Lời khuyên là hãy tránh lệ thuộc vào mạng Wi-Fi càng nhiều càng tốt.

Bảo mật cho smartphone

Giao dịch ngân hàng chỉ có thể được bảo mật khi điện thoại của bạn được an toàn. Trong khi các ứng dụng độc hại với iOS vẫn còn hiếm gặp và thường được xoá bỏ khỏi App Store ngay khi bị phát hiện, thì Android đang là tầm ngắm của nhiều cuộc tấn công với số lượng tăng lên theo từng tháng. Người dùng nên cảnh giác với các ứng dụng không xuất xứ từ những cửa hàng ứng dụng, xoá ngay các tin nhắn SMS không mong muốn có chứa liên kết nghi ngờ và theo dõi lưu lượng dữ liệu trao đổi. Ngoài ra, người dùng Android nên nghiêm túc xem xét cài đặt ứng dụng anti-virus cho điện thoại.

Truy cập vật lý vào điện thoại của bạn đôi lúc có thể trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Không ai muốn cảnh giác với bạn bè, đồng nghiệp hay thành viên trong gia đình, nhưng nếu ai đó có thể giữ điện thoại của bạn trong thời gian đủ lâu, mọi điều đều có thể xảy ra. Khoá bằng mã PIN đơn giản hoặc pattern có sẵn trên tất cả các nền tảng smartphone là một yêu cầu gần như bắt buộc.

Sử dụng ứng dụng ngân hàng di động

Người dùng truy cập vào tài khoản thông qua smartphone nên sử dụng các ứng dụng chính thức được cung cấp bởi ngân hàng hoặc công ty thẻ tín dụng. Phương thức này sẽ loại bỏ tất cả các lỗ hổng trình duyệt vốn thường bị các hacker kiểm soát. Mối lo duy nhất là các ứng dụng giả mạo. Thỉnh thoảng một ứng dụng độc hại sẽ tìm được đường vào Play Store hoặc iOS trong thời gian tạm thời, đóng giả là ứng dụng chính để ăn cắp ID người dùng và mật khẩu khi bạn nhập vào. Những ứng dụng giả này thường không thể tồn tại lâu trên cửa hàng ứng dụng, nhưng ngay cả như vậy, người dùng nên có thói quen kiểm tra kỹ thông tin của một ứng dụng trước khi tải về. Nếu có nghi ngờ, chẳng hạn như số lượng đánh giá thấp bất thường hoặc tên nhà xuất bản lạ lẫm, tốt nhất đừng cài đặt nó.

Hành động khi bị mất điện thoại

Mã PIN hay khoá pattern không thể giữ an toàn cho dữ liệu của bạn trước những cặp mắt tò mò khi chiếc điện thoại thân yêu bị mất. Nếu sỡ hữu một chiếc iPhone chạy iOS 5 trở đi, bạn đã có quyền sử dụng dịch vụ mang tên Find My iPhone bằng cách truy cập này http://icloud.com/find và đăng nhập với tài khoản Apple. Để xóa sạch dữ liệu của thiết bị đã mất, bạn đi đến Devices, chọn iPhone (hoặc iPad) và nhấp vào Erase. Ngoài ra, nếu nghĩ rằng điện thoại chỉ thất lạc chứ không phải bị đánh cắp, bạn có thể đặt nó vào trạng thái Lost Mode để khoá thiết bị và thông báo cho bất cứ ai tìm thấy gọi vào một số cụ thể.

Android cũng vừa được trang bị tính năng này bằng trang quản lý Android Device Management (http://google.com/android/devicemanager). Bạn có thể dùng tiện ích này để rung chuông trong 5 phút nhằm tìm kiếm điện thoại khi bị thất lạc hoặc khôi phục lại trạng thái sản xuất khi điện thoại của bạn bị mất. Tính năng hoạt động với các thiết bị chạy hệ điều hành Android 2.2 hoặc mới hơn, đã cài đặt ứng dụng Google Apps Device Policy (http://gg.gg/h2h2) và đang mở kết nối 3G/Wi-Fi.

Hoàng Hải
Theo xahoithongtin.vn

Các kỹ năng đặt câu hỏi

6 kỹ năng hình thành năng lực đặt câu hỏi nhận thức

theo hệ thống phân loại các mức độ câu hỏi của Bloom

1. Câu hỏi BIẾT

- Mục tiêu :

Nhằm kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ liệu, số liệu, các định nghĩa, định luật, quy tắc, khái niệm, tên người, địa phương …

- Tác dụng đối với học sinh :

Giúp học sinh ôn lại những gì đã biết, đã trải qua.

- Cách thức dạy học

Khi hình thành câu hỏi giáo viên có thể sử dụng các từ sau đây : Ai…? Cái gì…? ở đâu …? Thế nào …? Khi nào…? Hãy định nghĩa…? Hãy mô tả… Hãy kể lại ….

2. Câu hỏi HIỂU 

- Mục tiêu :

Nhằm kiểm tra học sinh cách liên hệ kết nối các dữ kiện, số liệu, các đặc điểm … khi tiếp nhận thông tin.

- Tác dụng đối với học sinh :

Giúp học sinh có khả năng nêu ra được những yếu tố cơ bản trong bài học.

Biết cách so sánh các yếu tố, các sự kiện … trong bài học

- Cách thức dạy học

Khi hình thành câu hỏi giáo viên có thể sử dụng các từ sau đây : Vì sao…? Hãy giải thích…? Hãy so sánh…,  Hãy liên hệ ….

3. Câu hỏi ÁP DỤNG

- Mục tiêu :

Nhằm kiểm tra học sinh khả năng áp dụng những thông tin đã tiếp thu được (các dữ kiện, số liệu, các đặc điểm … ) vào tình huống mới.

- Tác dụng đối với học sinh :

* Giúp học sinh hiểu được nội dung kiến thức, các khái niệm, định luật.

* Biết cách lựa chọn nhiều phương pháp để giải quyết vấn đề trong cuộc sống.

- Cách thức dạy học

* Khi dạy học giáo viên cần tạo ra các tình huống mới, các bài tập, các ví dụ, giúp học sinh vận dụng các kiến thức đã học.

* Giáo viên có thể đưa ra nhiều câu trả lời khác để học sinh lựa chọn một câu trả lới đúng. Chính việc so sánh các lời giải khác nhau là một quá trình tích cực.

4. Câu hỏi PHÂN TÍCH

- Mục tiêu :

Nhằm kiểm tra học sinh khả năng phân tích nội dung vấn đề, để tìm ra mối liên hệ hoặc chứng minh luận điểm hoặc đi đến kết luận.

- Tác dụng đối với học sinh :

* Giúp học sinh tìm ra được các mối quan hệ trong hiện tượng, sự kiện, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận riêng, từ đó phát triển được tư duy lôgic .

- Cách thức dạy học

* Câu hỏi phân tích thường đòi hỏi học sinh phải trả lời : Tại sao? (khi giải thích nguyên nhân). Em có nhận xét gì? (khi đi đến kết luận). Em có thể diễn đạt như thế nào? (khi chứng minh luận điểm)

* Câu hỏi phân tích thường có nhiều lời giải.

5. Câu hỏi TỔNG HỢP

- Mục tiêu :

Nhằm kiểm tra khả năng của học sinh có thể đưa ra những dự đoán, cách giải quyết vấn đề, các câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo.

- Tác dụng đối với học sinh :

Kích thích sự sáng tạo của học sinh, hướng các em tìm ra nhân tố mới …

- Cách thức dạy học

* Giáo viên cần đưa ra những tình huống, những câu hỏi, khiến học sinh phải suy đoán, có thể tự do đưa ra những lời giải mang tính sáng tạo riêng của mình.

* Câu hỏi tổng hợp đòi hỏi giáo viên phải có nhêu thời gian chuẩn bị.

6. Câu hỏi ĐÁNH GIÁ

- Mục tiêu :

Nhằm kiểm tra khả năng đóng góp ý kiến, sự phán đoán của học sinh trong việc nhận định đánh giá các ý tưởng, sự kiện, hiện tượng … dựa trên các tiêu chí đã đưa ra.

- Tác dụng đối với học sinh :

Thúc đẩy sự tìm tòi tri thức, sự xách định giá trị của học sinh.

- Cách thức dạy học

Giáo viên có thể tham khảo một số gợi ý sau đây để xây dựng các câu hỏi đánh giá : Hiệu quả sử dụng của nó như thế nào? Việc làm đó có thành công không? Tại sao? Theo em trong số các giả thuyết nêu ra, giả thuyết nào hợp lý nhất và tại sao?.

10 kỹ năng để hình thành năng lực ứng xử

khi đưa ra câu hỏi cho học sinh

1. DỪNG LẠI SAU KHI ĐẶT CÂU HỎI 

- Mục tiêu :

* Tích cực hóa suy nghĩ của tất cả học sinh.

* Đưa ra các câu hỏi tốt hơn hoàn chỉnh hơn.

- Tác dụng đối với học sinh :

Dành thời gian cho học sinh suy nghĩ để tìm ra lời giải.

- Cách thức dạy học

* Giáo viên “sử dụng thời gian chờ đợi”  (3 – 5 giây) sau khi đưa ra câu hỏi.

* Chỉ định một học sinh đưa ra câu trả lời ngay sau “thời gian chờ đợi”

2. PHẢN ỨNG VỚI CÂU TRẢ LỜI SAI CỦA HỌC SINH 

- Mục tiêu :

* Nâng cao chất lượng câu trả lời của học sinh.

* Tạo ra sự tương tác cởi mở và khuyến khích sự trao đổi.

- Tác dụng đối với học sinh :

Khi giáo viên phản ứng với câu trả lời sai của học sinh có thể xảy ra hai tình huống sau :

* Phản ứng tiêu cực : phản ứng về mặt tình cảm học sinh tránh không tham gia vào họat động.

* Phản ứng tích cực : Học sinh cảm thấy mình được tôn trọng, được kích thích phấn chấn và có thể có sáng kiến trong tương lai.

- Cách thức dạy học

* Giáo viên quan sát các phản ứng của học sinh khi bạn mình trả lời sai (sự khác nhau của từng cá nhân) .

* Tạo cơ hội lần hai cho học sinh trả lời bằng cách : không chê bai, chỉ trích hoặc phạt dể gây ức chế tư duy của học sinh.

* Sử dụng một phần câu trả lời của học sinh để khuyến khích học sinh tiếp tục thực hiện.

3. TÍCH CỰC HÓA TẤT CẢ  HỌC SINH 

- Mục tiêu :

* Tăng cường sự tham gia của học sinh trong quá trình học tập.

* Tạo sự công bằng trong lớp học.

- Tác dụng đối với học sinh :

* Phát triển được ở học sinh những cảm tưởng tích cực như học sinh cảm thấy “những việc làm đó dành cho mình” .

* Kích thích được học sinh tham gia tích cực vào các họat động học tập.

- Cách thức dạy học

* Giáo viên chuẩn bị trước bảng các câu hỏi và nói với học sinh : “các em sẽ được lần lượt được gọi lên để trả lời câu hỏi”.

* Gọi học sinh mạnh dạn và học sinh nhút nhát phát biểu.

* Tránh làm việc chỉ trong một nhóm nhỏ.

* Có thể gọi cùng một học sinh vài lần khác nhau.

4. PHÂN PHÔI CÂU HỎI CHO CẢ LỚP 

- Mục tiêu :

* Tăng cường sự tham gia của học sinh trong quá trình học tập.

* Giảm “thời gian nói của giáo viên”.

* Thay đổi khuôn mẫu “hỏi - trả lời”

- Tác dụng đối với học sinh :

* Chú ý nhiều hơn các câu trả lời của nhau.

* Phản ứng với câu trả lời của nhau.

* Học sinh tập trung chú ý tham gia tích cực vào việc trả lời câu hỏi của giáo viên. 

- Cách thức dạy học

* Giáo viên cần chuẩn bị trước và đưa ra các câu trả lời tốt (câu hỏi mở, có nhiều cách trả lời, có nhiều giải pháp khác nhau. Câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, xúc tích). Giọng nói của giáo viên phải đủ to cho cả lớp nghe thấy.

* Khi hỏi học sinh, trong trường hợp câu hỏi khó nên đưa ra cho cả lớp nghe thấy.

* Khi gọi học sinh có thể sử dụng cả cử chỉ..

* Giáo viên cố gắng hỏi nhiều học sinh, cần chú ý hỏi những học sinh thụ động và các học sinh ngồi khuất cuối lớp.

5. TẬP TRUNG VÀO TRỌNG TÂM 

- Mục tiêu :

* Giúp học sinh hiểu đuợc trọng tâm bài học thông qua việc trả lời câu hỏi.

* Khắc phục tình trạng học sinh đưa ra câu trả lời “em không biết”, hoặc câu trả lời không đúng.

- Tác dụng đối với học sinh :

* Học sinh phải suy nghĩ, tìm ra các sai sót hoặc lấp các “chỗ hổng” của kiến thức.

* Có cơ hội để tiến bộ.

* Học theo cách khám phá “từng bước một”

- Cách thức dạy học

* Giáo viên chuẩn bị trước và đưa cho học sinh những câu hỏi cụ thể, phù hợp với những nội dung chính của bài học

* Đối với các câu hỏi khó có thể đưa ra những gợi ý nhỏ cho các câu trả lời..

* Trường hợp nhiều học sinh không trả lời được, giáo viên nên tổ chức cho học sinh thảo luân nhóm.

* Giáo viên dựa vào một phần nào đó câu trả lời của học sinh để đặt tiếp câu hỏi.Tuy nhiên cần tránh đưa ra các câu hỏi vụn vặt, không có chất lượng.

6. GIẢI THÍCH  

- Mục tiêu :

* Nâng cao chất lượng câu trả lời chưa hoàn chỉnh.

- Tác dụng đối với học sinh :

* Học sinh  đưa ra câu trả lời hoàn chỉnh hơn..

- Cách thức dạy học

* Giáo viên có thể đặt ra các câu hỏi yêu cầu học sinh đưa thêm thông tin.

7. LIÊN HỆ  

- Mục tiêu :

* Nâng cao chất lượng cho các câu trả lời chỉ đơn thuần trong phạm vi kiến thức của bài học, phát triển mối liên hệ trong quá trình tư duy.

- Tác dụng đối với học sinh :

* Giúp học sinh hiểu sâu hơn bài học thông qua việc liên hệ với các kiến thức khác..

- Cách thức dạy học

* Giáo viên yêu cầu học sinh liên hệ các câu trả lời của mình với những kiến thức đã học của môn học và những môn học khác có liên quan.

8. TRÁNH NHẮC LẠI CÂU HỎI CỦA MÌNH  

- Mục tiêu :

* Giảm “thời gian giáo viên nói”.

* Thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh.

- Tác dụng đối với học sinh :

* Học sinh  chú ý nghe lời giáo viên nói hơn.

* Có nhiều thời gian để học sinh trả lời hơn

* Tham gia tích cực hơn vào các họat động thảo luận.

- Cách thức dạy học

* Giáo viên chuẩn bị trước câu hỏi và có cách hỏi rõ ràng, xúc tích, áp dụng tổng hợp các kỹ năng nhỏ đã nêu ở trên.

9. TRÁNH TỰ TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA MÌNH  

- Mục tiêu :

* Tăng cường sự tham gia của học sinh.

* Hạn chế sự tham gia của giáo viên.

- Tác dụng đối với học sinh :

* Học sinh  tích cực tham gia vào các họat động học tập như suy nghĩ để giải bài tập, thảo luận, phát biểu để tìm kiếm tri thức….

* Thúc đẩy sự tương tác : học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh.

- Cách thức dạy học

* Giáo viên tạo ra sự tương tác giữa học sinh với học sinh làm cho giờ học không bị đơn điệu. Nếu có học sinh chưa rõ câu hỏi, giáo viên cần chỉ định học sinh khác nhắc lại câu hỏi.

* Câu hỏi phải dễ hiểu, phù hợp với trình độ học sinh, với nội dung kiến thức bài học. Đối với các câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời về những kiến thức mới, thì những kiến thức đó phải có mối liên hệ với những kiến thức cũ mà học sinh đã được học hoặc tiếp thu được từ thực tế cuộc  sống.

10. TRÁNH NHẮC LẠI CÂU TRẢ LỜI CỦA HỌC SINH   

- Mục tiêu :

* Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh, tăng cường tính độc lập của học sinh.

* Giảm thời gian nói của giáo viên.

- Tác dụng đối với học sinh :

* Phát triển khả năng tham gia vào họat động thảo luận và nhận xét các câu trả lời của nhau.

* Thúc đẩy học sinh tự tìm ra câu trả lời hoàn chỉnh.

- Cách thức dạy học

* Để đánh giá được câu trả lời của học sinh đúng hay chưa đúng, giáo viên nên chỉ định các học sinh khác nhận xét về câu trả lời của bạn, sau đó giáo viên hãy kết luận.

Theo: thpt-nguyenkhuyen-hp.edu.vn

Phương pháp dạy tiết luyện tập môn Toán

Trên thực tế nhiều giáo viên còn lúng túng khi dạy loại tiết học này. Do không nắm được phương pháp thể hiện tiết luyện tập hay nội dung bài soạn còn  thiếu sót chưa đủ nội dung cần dạy trong tiết luyện tập nên  hiệu quả tiết dạy chưa tốt. Nhằm giúp cho các giáo viên dạy Toán  thể hiện tiết dạy Luyện tập đúng hướng, chúng tôi giới thiệu bài viết sau mà tôi đã tiếp thu được qua các đợt tập huấn thay sách bậc trung học cũng như các tài liệu tham khảo về đổi mới phương pháp dạy học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nội dung gồm:

I.    Vị trí của tiết luyện tập

II.   Mục tiêu chung của tiết luyện tập

III. Các phương án thể hiện tiết luyện tập

IV.  Qui trình soạn và thực hiện tiết luyện tập trên lớp.

I. VỊ TRÍ CỦA TIẾT LUYỆN TẬP

1/ Tiết luyện tập có tác dụng hoàn thiện các kiến thức cơ bản mà tiết lý thuyết vừa cung cấp.

2/ Nâng cao lý thuyết trong chừng mực có thể.

3/ Làm cho học sinh nhớ và khắc sâu hơn những vấn đề lý thuyết đã học.

* Một vài điều cần lưu ý:

1/ Tiết luyện tập không phải chỉ là tiết giải các bài tập đã cho học sinh làm ở nhà hay sẽ cho học sinh làm trên lớp mà còn phải là tiết dạy cách suy nghĩ giải toán.

2/ Trong tiết luyện tập phải xác ðịnh rõ:

    * Thầy phải luyện cái gì?

    * Trò phải tập cái gì?

3/ Tiết luyện tập có mục đích rõ ràng hơn tiết bài tập.

    * Hiện nay trong sách giáo khoa  đã phân biệt rõ phần luyện tập và phần  bài tập.

4/ Trong tiết luyện tập, phần nào đó giáo viên được  “tự do” hơn trong việc lựa chọn nội dung dạy học so với tiết lý thuyết, sao cho đạt được mục đích yêu cầu đề ra.

II. MỤC TIÊU CHUNG CỦA TIẾT LUYỆN TẬP

1/ Một là, hoàn thiện hoặc nâng cao ở mức độ phổ thông cho phép ðối với phần lý thuyết của tiết học trước thông qua một số tiết học trước, thông qua một hệ thống bài tập đã được sắp xếp hợp lý theo kế hoạch lên lớp.

    * Hệ thống bài tập gồm: các bài tập trong SGK, sách bài tập, các bài tập tự chọn, tự sáng tạo của giáo viên tuỳ theo mục đích và chủ ý của mình.

2/ Hai là, rèn luyện cho học sinh các kỹ năng, thuật toán hoặc nguyên tắc giải toán dựa trên cơ sở nội dung lý thuyết đã học và phù hợp với đa số học sinh một lớp, thông qua hệ thống bài tập đã được sắp xếp theo chủ ý của giáo viên.

3/ Ba là, thông qua phương pháp và nội dung rèn luyện cho học sinh nề nếp làm việc có tính khoa học, phương pháp tư duy cần thiết.

III. CÁC PHƯƠNG ÁN THỂ HIỆN TIẾT LUYỆN TẬP

PHƯƠNG ÁN 1

1/ Bước 1:

- Nhắc lại một cách có hệ thống các nội dung lý thuyết đã học(định nghĩa, định lý, qui tắc, công thức,…), chú ý đến phương pháp giải các dạng toán.

    - Sau đó giáo viên có thể mở rộng phần lý thuyết ở mức độ phổ thông nếu cần thiết.

    * Giáo viên nên thể hiện thông qua phần kiểm tra bài cũ đầu tiết học. 

2/ Bước 2:

   - Cho học sinh trình bày lời giải các bài tập đã làm ở nhà mà giáo viên ðã qui ðịnh, nhằm kiểm tra sự vận dụng lý thuyết trong việc giải các bài tập của học sinh.

    * Kiểm tra kỹ năng: tính toán, diễn đạt bằng ngôn ngữ, ký hiệu, trình bày lời giải của học sinh.

   - Sau đó cho học sinh của lớp nhận xét ưu khuyết điểm trong lời giải, đánh giá đúng sai, hoặc đưa ra cách giải khác hay hơn.

   - Giáo viên chốt lại vấn ðề theo nội dung sau:

       + Phân tích những sai lầm và nguyên nhân dẫn ðến những sai lầm ðó ( nếu có).

       + Khẳng định những chỗ làm đúng, làm tốt của học sinh để kịp thời động viên.

       + Đưa ra những cách giải khác ngắn gọn hơn, hay hơn hoặc vận dụng lý thuyết linh hoạt hơn( nếu có thể).

3/ Bước 3:

    Giáo viên cho học sinh làm một số bài tập mới ( có trong hệ thống bài tập mà HS chưa làm hoặc GV biên soạn theo mục tiêu đề ra của tiết luyện tập) của các tiết luyện tập nhằm mục đích :

    - Kiểm tra ngay sự hiểu biết của học sinh phần lý thuyết mở rộng mà giáo viên đưa ra ở đầu giờ học (nếu có).

    - Khắc sâu hoàn thiện lý thuyết qua các bài tập có tính chất phản ví dụ, các bài tập vui có tính thiết thực.

4/ Bước 4: Củng cố sau tiết luyện tập, hướng dẫn học bài về nhà.

-         Hệ thống lại những dạng toán đã luyện, phương pháp giải các dạng toán đó.

-         Kiến thức sử dụng trong tiết luyện tập.

-         Ra bài tập về nhà, dặn dò chuẩn bị cho tiết học sau

PHƯƠNG ÁN 2

1/ Bước 1 :

Cho HS trình bày lời giải các bài tập cũ đã cho HS làm ở nhà, nhằm kiểm tra:

    - HS hiểu lý thuyết đến đâu.

    - Kỹ năng vận dụng LT trong việc giải BT.

    - HS mắc những sai phạm nào ?

    - Cách trình bày lời giải bằng ngôn ngữ, bằng kí hiệu chuẩn xác chưa ?

2/ Bước 2:

    Giáo viên chốt lại những vấn ðề có tính chất trọng tâm:

    - Nhắc lại một số vấn ðề chủ yếu về lý thuyết mà học sinh chưa vận dụng được khi giải bài tập.

    - Chỉ ra những sai sót của học sinh, những sai sót thường mắc phải mà giáo viên tích luỹ được trong quá trình giảng dạy.

    - Hướng dẫn cho HS cách trình bày, diễn đạt bằng ngôn ngữ, ký hiệu toán học…

3/ Bước 3:

    Giống như Bước 3 phương án 1.

    Làm thêm bài tập mới, nhằm đạt được yêu cầu:

    - Hoàn thiện lý thuyết, khắc phục sai lầm HS thường mắc phải.

    - Rèn luyện một vài thuật toán cơ bản mà HS cần ghi nhớ trong quá trình học tập.

    - Rèn luyện cách phân tích bài toán, tìm phương hướng giải quyết bài toán.

4/ Bước 4: Củng cố sau tiết luyện tập, hướng dẫn học bài về nhà.

-         Hệ thống lại những dạng toán đã luyện, phương pháp giải các dạng toán đó.

-         Kiến thức sử dụng trong tiết luyện tập.

-         Ra bài tập về nhà, dặn dò chuẩn bị cho tiết học sau

* Tóm lại

Dù sử dụng phương án nào thì cũng có ba phần chủ yếu:

          - Hoàn thiện lý thuyết.

          - Rèn luyện kỹ năng thực hành.

          - Phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh.

IV. QUI TRÌNH SOẠN BÀI

1) Nghiên cứu tài liệu:

- Trước hết phải nghiên cứu lại phần lý thuyết mà học sinh được học. Qua đó phải xác định kiến thức nào là kiến thức cơ bản, trọng tâm, kiến thức nào nâng cao, mở rộng cho phép.

- Tiếp theo là nghiên cứu các bài tập trong SGK, sách bài tập theo yêu cầu sau: 

    a) Cách giải từng bài toán như thế nào?

    b) Có thể có bao nhiêu cách giải bài toán này.

    c) Cách giải nào là thường gặp? Cách giải nào là cơ bản?

    d) Ý đồ của tác giả đưa ra bài toán này để làm gì ?

    e) Mục tiêu và tác dụng của từng bài tập như thế nào?

- Nghiên cứu sách tham khảo, sách giáo viên kỹ sau đó tập trung xây dựng nội dung tiết luyện tập và phương pháp luyện tập.

2) Nội dung bài soạn:

a) Mục tiêu của tiết luyện tập.

b) Cấu trúc tiết luyện tập:

b.1- Chữa các bài tập cũ kỳ trước:

      - Số lượng bài tập, dự kiến thời gian.

      - Chốt lại vấn đề gì qua các bài tập này ?

b.2-Cho học sinh làm bài tập mới.

( Chọn trong SGK, SBT hay GV soạn ra.)

      - Số lượng bài tập, dự kiến thời gian.

      - Bài tập đưa ra có dụng ý gì ?

b.3- Hướng dẫn học sinh học bài, làm bài ở nhà sau tiết bài tập.

      - Hệ thống các bài tập cho về nhà làm. ( Chọn trong SGK, SBT hay GV soạn ra.)

      - Gợi ý gì đối với từng bài tập cho học sinh yếu, học sinh giỏi?

c) Thực hiện nội dung đã nêu ở trên trong tiết luyện tập.

Tiến trình được thực hiện trên lớp thế nào để phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học.

V. KẾT LUẬN

          Khi dạy tiết luyện tập hãy cần lưu ý:

- Đừng biến tiết luyện tập thành tiết chữa bài tập. Tiết luyện tập phải là tiết dạy cách suy nghĩ giải toán.

          - Đừng đưa quá nhiều bài tập trong tiết luyện tập. Nên chọn một số lượng bài vừa đủ để có điều kiện khắc sâu kiến thức được vận dụng và phát triển các năng lực tư duy cần thiết trong giải Toán.

          - Nên sắp xếp các bài tập thành một chùm bài có liên quan với nhau.

          - Trong tiết luyện tập có bài giải chi tiết, có bài giải vắn tắt.

          - Hãy để HS có thời gian làm quen với bài toán, nghiên cứu tìm tòi lời giải bài toán và để HS hưởng niềm vui khi tự mình tìm ra chìa khoá lời giải.

          * Chúng tôi hy vọng rằng sau khi các đồng nghiệp áp dụng vào thực tế giảng dạy thì hiệu quả sẽ lên cao rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường./.

Theo: thpt-nguyenkhuyen-hp.edu.vn

Kích hoạt bộ gõ Tiếng Việt trên Ubuntu 13.10

Có đôi chút thay đổi nhỏ trong việc tích hợp ứng dụng Unikey vào bộ gõ iBus trên Ubuntu 13.10

Vừa qua phiên bản Ubuntu 13.10 đã chính thức phát hành, đối với cộng đồng Linux nói chung thì đây là tin vui bởi Ubuntu 13.10 mang đến nhiều cải tiến đang quan tâm, nhưng đối với cộng đồng Việt thì lại gặp đôi chút rắc rối trong việc kích hoạt bộ gõ Tiếng Việt, cụ thể là app iBus trên Ubuntu 13.10 đã bị thay đổi nên gây đôi chút "mù mịt" cho người dùng.

Để có thể gõ Tiếng Việt trên Ubuntu 13.10 bạn cần cài thêm ứng dụng hỗ trợ Unikey đi kèm với iBus có sẵn trên Ubuntu, mặc dù bản thân Ubuntu đã có phần hỗ trợ gõ Tiếng Việt nhưng rất khó sử dụng. Bạn có thể tìm thấy ứng dụng hỗ trợ Unikey trên hệ thống Ubuntu Software Center.

Sau khi cài xong ứng dụng hỗ trợ, bạn vào Terminal và nhập vào dòng lệnh "ibus restart".

Kích hoạt bộ gõ Tiếng Việt trên Ubuntu 13.10

Kế tiếp, bạn vào All Apps và gõ vào từ khóa "Text Entry" để tiến hành thêm ứng dụng hỗ trợ Unikey vào bộ gõ iBus của Ubuntu 13.10

Kích hoạt bộ gõ Tiếng Việt trên Ubuntu 13.10

Trên giao diện Text Entery, bấm chuột vào biểu tượng dấu "+" sau đó nhập vào ô tìm kiếm là Vietnamese (Unikey) để tích hợp Unikey vào iBus và nhấn nút Add để thêm vào.

Kích hoạt bộ gõ Tiếng Việt trên Ubuntu 13.10

Cuối cùng chỉ cần di chuyển Vietnamese (Unikey) bằng các phím mũi tên bên dưới danh sách sao cho Vietnamese (Unikey) đứng hàng đầu tiên, như thế Ubuntu sẽ hiểu là Vietnamese (Unikey) là bộ gõ mặc định.

Chúc bạn thành công!

Theo Genk.vn

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

Sau năm 2015, học sinh phổ thông sẽ đến trường với 'hành trang' gì?

Nhiều nội dung được bộ phận thường trực Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015 đưa ra, những nhiệm vụ định hướng cải thiện chất lượng giáo dục phổ thông được thể hiện cụ thể. Sau năm 2015, học sinh phổ thông sẽ đến trường với hành trang gì?

“Giảng ít, học nhiều”
Về cơ bản,  mục tiêu giáo dục phổ thông sẽ tập trung sẽ thực hiện đồng bộ các yếu tố cơ bản của chương trình giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học, xác định mục tiêu giáo dục con người phát triển toàn diện, vừa phát triển cao nhất tiềm năng của mỗi cá nhân, phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ kết hợp với dạy chữ, dạy người, dạy nghề.
Về nội dung giáo dục sẽ theo hướng tinh giản, cơ bản, hiện đại, tăng thực hành, vận dụng kiến thức và kĩ năng vào thực tiễn, chú trọng giáo dục khoa học xã hội và nhân văn, kĩ năng sống, pháp luật, thể chất, quốc phòng và hướng nghiệp.
Tích hợp cao ở các lớp dưới và phân hóa dần ở các lớp trên, giảm số môn học bắt buộc, tăng số môn học, chủ đề và hoạt động giáo dục dành cho học sinh tự chọn. Khắc phục tình trạng chương trình bị cắt khúc, thiếu thống nhất giữa các cấp học.
Về phương giáp dạy, theo Ban Chỉ đạo đổi mới sẽ khắc phục được lối truyền thụ kiến thức một chiều, ghi nhớ máy móc, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, giáo viên tập trung dạy cách học, cách nghĩ và tự học theo phương châm “giảng ít, học nhiều”, bồi dưỡng ý thức học tập suốt đời.

Sau năm 2015 kỳ thi tốt nghiệp THPT sẽ đổi mới theo hướng tinh giảm, gọn nhẹ.
Ảnh minh họa - Xuân Trung

Đổi mới từ cách học chủ yếu là lắng nghe và ghi chép sang suy nghĩ và phản hồi tích cực với bạn, với thầy. Đặc biệt, theo Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cho biết, chương trình sẽ đổi mới căn bản hình thức và phương pháp kiểm tra, thi và đánh giá chất lượng giáo dục, đảm bảo trung thực, khách quan theo yêu cầu phát triển năng lực phẩm chất người học.
Cụ thể, sẽ đánh giá việc hiểu, vận dụng kiến thức, kĩ năng và giải quyết các vấn đề trong học tập và thực tiễn, hạn chế yêu cầu ghi nhớ máy móc. Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cũng nhấn mạnh, sẽ đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp THPT theo hướng kiểm tra năng lực học sinh, thiết thực, hiệu quả, tin cậy. Sử dụng được kết quả tốt nghiệp THPT làm căn cứ  cho tuyển sinh của nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp và ĐH, CĐ.
Mục tiêu của chương trình đổi mới sẽ giúp học sinh có kĩ năng “giảng ít, học nhiều”, và việc thiết kế nội dung các môn học cũng sẽ đổi mới tương ứng.
Theo đó, nội dung các môn học sẽ được xây dựng xuyên suốt từ Tiểu học đến THPT, đảm bảo tính thống nhất, hệ thống và liên thông giữa các cấp học, môn học. Các môn học sẽ không nhất thiết phải có mặt ở tất cả mọi lớp.
Một trong những nội dung hướng tới đổi mới sẽ là lựa chọn cách tiếp cận kiến thức, kĩ năng của mỗi môn học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, tránh tình trạng quá coi trọng locgic nội dung của khoa học tương ứng mà coi nhẹ yêu cầu thiết thực với cuộc sống.
Tương ứng đối với đổi mới chương trình thì sách giáo khoa cũng cần thay đổi cách thức biên soạn theo hướng, mỗi bài học đưa ra các tình huống giàu tính thực tiễn hoặc các tình huống giả định buộc phải vận dụng kiến thức và kĩ năng để tìm cách giải quyết.
Tích hợp và phân hóa mạnh ở các cấp học
Cụ thể, hệ thống môn học và hệ thống giáo dục được chia thành 2 loại là bắt buộc và tự chọn. Theo Ban chỉ đạo đổi mới chương trình thì những chủ đề phải tích hợp vào tất cả hoặc hầu hết các môn học. Hoạt động giáo dục như giáo dục bền vững, ô nhiễm môi trường, giáo dục giới tính, toàn cầu hóa, an toàn giao thông. Tùy đặc  trưng từng môn học mà hoạt động giáo dục  các chủ đề thuộc loại này được lồng ghép vào nội dung dạy học, giáo dục của môn học.
Bên cạnh đó những chủ đề gần nhau, có nội dung liên quan chặt chẽ với nhau trong một số môn học, hoạt động giáo dục nhưng không thuộc hẳn về môn học, các hoạt động giáo dục như: “nước trong đời sống tự nhiên, xã hội và con người, năng lượng và đời sống con người, bạn muốn có một cơ thể khỏe mạnh, các nước Đông Nam Á, thống nhất và đa dạng...”. Học chủ đề các loại này học sinh phải tổng hợp nhiều kiến thức từ nhiều lĩnh vực để tìm hiểu và giải quyết vấn đề.
Đối với cấp tiểu học (lớp 1 và lớp 2), các môn học bắt buộc được kiến nghị gồm: 3 môn Tiếng Việt, Toán, tìm hiểu tự nhiên và xã hội (tích hợp trong  môn Đạo đức). Bên cạnh đó là các hoạt động giáo dục gồm: Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật (tích hợp trong môn Thủ công). Các môn tự chọn: Tự học có hướng dẫn, đọc văn, Nghệ thuật.
Ở lớp 3, các môn học bắt buộc sẽ là: Tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ 1, Đạo đức, Tìm hiểu tự nhiên và xã hội. Các hoạt động gồm Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật (tích hợp trong môn Thủ công), Tập thể. Môn tự chọn gồm: Đọc văn, Làm quen với máy tính, Nghệ thuật, Thể dục..
Lớp 4 và 5 có các môn bắt buộc gồm 6 môn: Tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ 1, Đạo đức, Tìm hiểu tự nhiên và Xã hội (gồm các chủ đề về Vật lí, Hóa học, Sinh học, Khoa học trái đất), tìm hiểu xã hội (gồm các chủ đề Lịch sử, Địa lí, Giáo dục sức khỏe, Kinh tế gia đình).
Các hoạt động giáo dục bổ trợ gồm: Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật (tích hợp trong môn Thủ công), Tập thể. Các môn tự chọn: Tự học có hướng dẫn, Đọc văn, Làm quen với máy tính, Nghệ thuật, Thể thao...
Cũng theo Ban chỉ đạo đổi mới, đối với cấp THCS chương trình đổi mới sau 2015 sẽ gồm các  môn bắt buộc: Ngữ Văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Khoa học tự nhiên (Vật lí, Hóa học, Sinh học, , Khoa học trái đất, Chủ đề liên môn), Khoa học Xã hội (Lịch sử, Địa lí, Kinh tế, Xã hội, Chủ đề liên môn), Giáo dục công dân, Công nghệ.
Các  môn  tự chọn gồm: Ngoại ngữ 2, một số chủ đề Văn học, Toán, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội, Nghệ thuật, thể dục, thể thao...
Với cấp THPT định hướng các môn học bắt buộc của lớp 10 sau đổi mới sẽ gồm 11  môn: Ngữ văn, Toán, Giáo dục công dân, Ngoại ngữ 1, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí, Tin học, Công nghệ. Bên cạnh đó có 2 chuyên đề tự chọn chuyên sâu các môn Ngữ văn, Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí, Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học..., môn Ngoại ngữ 2.
Đối với lớp 11, lớp 12, các môn bắt buộc gồm 3 môn: Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1. Môn tự chọn: tự chọn bắt buộc 3 môn trong các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí, Tin học, GDCD, Công nghệ, Xã hội học.
Tự chọn tùy ý một số môn chuyên đề mở rông chuyên sâu thuộc các lĩnh vực: Văn, Toán, Vật lý, Hóa, Sinh, Lịch sử, Địa lý, Tin học, Công nghệ, Môi trường, Thể dục, Thể thao, Âm nhạc, Mĩ thuật, Kinh tế và Kinh danh, Nghề…; môn Ngoại ngữ 2.

Theo giaoduc.net.vn

Phương pháp dạy học môn Toán cho học sinh trung bình

Một trong những hoạt động cơ bản của học sinh trong học tập môn toán ở trường phổ thông là hoạt động giải toán. Đây là hoạt động phức tạp bao gồm nhiều thành tố tham gia, mà lâu nay đã được các chuyên gia trong lĩnh vực phương pháp dạy học nghiên cứu và chỉ rõ.

Thực tiễn dạy học lâu nay ở nước ta, theo nội dung, chương trình và SGK đã ban hành, hoạt động học và giải toán của học sinh đối tượng trung bình cơ bản diễn ra theo trình tự: quan sát, tiếp thu kiến thức; làm bài có sự hướng dẫn; tự làm theo mẫu; độc lập làm bài, tuân theo quá trình nhận thức chung là đi từ Algôrit đến Ơritstic.

Để thích ứng với quá trình học tập đó của đa số học sinh, kinh nghiệm của giáo viên dạy giỏi cho thấy, quá trình dạy cũng phải được tiến hành theo 4 giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: Quan sát, tiếp thu

Giáo viên giúp học sinh nắm kiến thức cơ bản, tối thiểu, cần thiết.

Giáo viên cần kết hợp vừa giảng vừa luyện, phân tích chi tiết, cụ thể, giúp học sinh hiểu khái niệm không hình thức.

Đồng thời với cung cấp kiến thức mới là củng cố khắc sâu thông qua ví dụ và phản ví dụ. Chú ý phân tích các sai lầm thường gặp.

Tổng kết tri thức và các tri thức phương pháp có trong bài.

Đây là giai đoạn khó khăn nhất, giai đoạn làm quen tiến tới hiểu kiến thức mới, đồng thời là giai đoạn quan trọng nhất, giai đoạn cung cấp kiến thức chuẩn cho học sinh. Kinh nghiệm cho thấy khi hoàn thành tốt giai đoạn này học sinh sẽ tiếp thu tốt hơn ở các giai đoạn sau.

Giai đoạn 2: Làm theo hướng dẫn

Giáo viên cho ví dụ tương tự học sinh bước đầu làm theo hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên.

Học sinh bước đầu vận dụng hiểu biết của mình vào giải toán. Giai đoạn này thường vẫn còn lúng túng và sai lầm, do học sinh chưa thuộc, chưa hiểu sâu sắc. Tuy nhiên giai đoạn 2 vẫn có tác dụng gợi động cơ cho giai đoạn 3.

Giai đoạn 3: Tự làm theo mẫu

Giáo viên ra một bài tập khác, học sinh tự làm theo mẫu mà giáo viên đã đưa ra ở giai đoạn 1 và giai đoạn 2.

Giáo viên tạm đứng ngoài cuộc. Ở giai đoạn này học sinh độc lập thao tác. Học sinh nào hiểu bài thì có thể hoàn thành được bài tập, học sinh nào chưa hiểu bài sẽ còn lúng túng. Giáo viên có thể nắm bắt được việc học tập cũng như mức độ hiểu bài của cả lớp và từng cá nhân thông qua giai đoạn này, từ đó đề ra biện pháp thích hợp cho từng đối tượng. Giai đoạn 3 có tác dụng gợi động cơ trung gian. Giáo viên thường vận dụng giai đoạn này khi ra bài tập về nhà.

Giai đoạn 4: Độc lập làm bài tập

Giáo viên nên ra cho học sinh:

Hoặc là một bài tập tương tự khác để học sinh làm ngay tại lớp.

Hoặc là bài tập ra về nhà tương tự với bài được học, nhằm rèn luyện kĩ năng.

Hoặc là bài kiểm tra thử.

Hoặc là đề thi của năm học trước, nhằm kích thích học tập bộ môn.

Giai đoạn này có tác dụng gợi động cơ kết thúc một nội dung dạy học. Giáo viên thường vận dụng giai đoạn này trong kiểm tra.

Cách dạy học toán theo bốn giai đoạn như trên, tuy chưa thoát ly cách dạy học truyền thống, nhưng đã phần nào tỏ ra có hiệu quả thiết thực đối với SGK đã được biên soạn lâu nay, phù hợp với hình thức dạy học theo tiết (45 phút), phù hợp với trình độ nhận thức của đối tượng học sinh diện đại trà trong học tập môn toán.

Để có thể dạy học theo bốn giai đoạn như trên đòi hỏi giáo viên phải:

Hiểu sâu sắc kiến thức và các tri thức phương pháp.

Trong soạn bài, giáo viên cần chuẩn bị cả bốn loại bài tập cho 4 giai đoạn, bên cạnh đó còn phải biết phân bậc bài tập cho từng đối tượng học sinh trong lớp và phải biết điều hành các đối tượng học sinh trong một lớp cùng hoạt động bằng cách giao cho mỗi loại đối tượng một dạng bài tập phù hợp với nhận thức của họ, có như thế giờ học mới sinh động và lôi cuốn.

Sưu tầm

Đề thi thử số 2 năm 2014 của Toán học tuổi trẻ số 436

Câu 1. Cho hàm số $y=-x^3+3x^2-2$, $(C)$
1) Khảo sát sự biến thiên và vẽ đồ thị hàm số
2) Xác định $m$ để đường thẳng $\Delta: y=m(2-x)+2$ cắt đồ thị hàm số $(C)$ tại ba điểm phân biệt $A(2,2)$, $B$, $C$ sao cho tích các hệ số góc tiếp tuyến với đồ thị $(C)$ tại $B$ và $C$ đạt giá trị nhỏ nhất.
Câu 2. Giải phương trình:
$\cos 3x+\sin 2x-2\sin x-\cos x+1=0$.
Câu 3. Giải hê phương trình $\begin{cases}4x^3-3x+(y-1)\sqrt{2y+1}=0\\2x^2+x+\sqrt{-y(2y+1)}=0.\end{cases}$
Câu 4. Tính tích phân $\int\limits_{\frac{\pi}{4}}^{\frac{\pi}{2}}\frac{\log_2(3\sin x+\cos x)}{\sin^2x}dx$.
Câu 5. Cho hình chóp $S.ABCD$ có đáy $ABCD$ là hình chữ nhật, $AB=2a$, tam giác $SAB$ cân tại $S$ và nằm trong mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng $(ABCD)$. Gọi $M$ là trung điểm của $SD$, mặt phẳng $(ABM)$ vuông góc với mặt phẳng $(SCD)$ và đường thẳng $AM$ vuông góc với đường thẳng $BD$. Tính thể tích khối chóp $S.BCM$ và khoảng cách từ $M$ đến mặt phẳng $(SBC)$.
Câu 6. Tính giá trị nhỏ nhất của biểu thức $$P=(xy+yz+2zx)^2-\frac{8}{(x+y+z)^2-xy-yz-2},$$ trong đó $x, y, z$ là các số thực thỏa mãn điều kiện $x^2+y^2+z^2=1$.
Câu 7a. Trong mặt phẳng $Oxy$, cho hình thang $ABCD$ vuông tại $A$ và $D$ có $AB=AD<CD$, điểm $B(1,2)$, đường thẳng $BD$ có phương trình $y=2$. Biết đường thẳng $(d): 7x-y-25=0$ cắt các đoạn thẳng $AD, CD$ lần lượt tại hai điểm $M, N$ sao cho $BM$ vuông góc với $BC$ và tia $BN$ là tia phân giác của góc $MBC$. Tìm điểm $D$ có hoành độ dương.
Câu 8a. Trong không gian $Oxyz$, cho các điểm $A(4,0,0)$ và $M(6,3,1)$. Viết phương trình mặt phẳng $(P)$ đi qua $A$ và $M$ sao cho $(P)$ cắt trục $Oy$, $Oz$ lần lượt tại $B, C$ và thể tích tứ diện $OABC$ bằng 4.
Câu 9a. Giải phương trình $2\log(x^2-1)=\log(x+1)^4+\log(x-2)^2$.
Câu 7b. Trong mặt phẳng $Oxy$, đường tròn nội tiếp tam giác đều $ABC$ có phương trình $(x-1)^2+(y-2)^2=5$ và đường thẳng $BC$ đí qua điểm $(\frac{7}{2},2)$. Xác định tọa độ điểm $A$.
Câu 8b. Trong không gian $Oxyz$, cho ba điểm $A(1,1,-1)$, $B(1,1,2)$ và $C(-1,2,-1)$ và mặt phẳng $(P)$ có phương trình $x-2y+2z+1=0$. Mặt phẳng $(\alpha)$ đí qua $A$ và vuông góc với mặt phẳng $(P)$ đồng thời cắt đường thẳng $BC$ tại $I$ sao cho $IB=2IC$. Viết phương trình mặt phẳng $(\alpha)$.
Câu 9b. Cho số phức $z$ thỏa mãn $(1-3i)z$ là số thực và $|\bar{z}-2+5i|=1$.

7 điều nên và không nên trong giảng dạy toán

1) Nên: Dạy và kiểm tra kiến thức học sinh theo lối “học để hiểu”;

Không nên: Tạo cho học sinh thói quen học vẹt, chỉ nhớ mà không hiểu.

2) Nên: Dạy những cái cơ bản nhất, nhiều công dụng nhất;

Không nên: Mất nhiều thời giờ vào những thứ ít hoặc không dùng đến.

3) Nên: Giải thích bản chất và công dụng của các khái niệm mới một cách trực giác, đơn giản nhất có thể, dựa trên sự liên tưởng tới những cái mà học sinh đã từng biết;

Không nên: Đưa ra các khái niệm mới bằng các định nghĩa hình thức, phức tạp, tối nghĩa.

4) Nên: Luôn luôn quan tâm đến câu hỏi “để làm gì ?”;

Không nên: Không cho học sinh biết họ học những thứ giáo viên dạy để làm gì, hay tệ hơn là bản thân giáo viên cũng không biết để làm gì.

5) Nên: Tổ chức kiểm tra, thi cử sao cho nhẹ nhàng nhất, phản ánh đúng trình độ học sinh, và khiến cho học sinh học tốt nhất;

Không nên: Chạy theo thành tích, hay tệ hơn là gian trá và khuyến khích gian trá trong thi cử.

6) Nên: Dạy học nghiêm túc, tôn trọng học sinh;

Không nên: Dạy qua quít, coi thường học sinh;

7) Nên: Hướng tới chất lượng;

Không nên: Chạy theo số lượng và hình thức.

DẪN LUẬN

Trong việc dạy học: một người mà dạy quá nhiều năm cùng một thứ, thì dễ dẫn đến nhàm chán trì trệ. Nhiều trường có phân chia việc dạy theo khối lớp, theo lớp hoặc phân môn, hoặc chuyên đề cho các thành viên tổ bộ môn,Việc phân chia như vậy có cái lợi là đảm bảo chất lượng dạy,đặc biệt là trong điều kiện trình độ giáo viên cần bàn, phải “chuyên môn hóa” trong việc dạy để đảm bảo chất lượng tối thiểu. Tuy nhiên nó có điểm hạn chế, là nó tạo ra xu hướng người dạysẽ chỉ biết chuyên ngành hẹp đấy, tầm nhìn không mở rộng ra.

Tất nhiên, việc thay đổi dạy đòi hỏi các giáo viên phải cố gắng hơn trong việc chuẩn bị bài giảng (mỗi lần đổi nội dung dạy, là một lần phải chuẩn bị bài giảng gần như từ đầu), nhưng đổi lại nó làm tăng trình độ của bản thân giáo viên, giúp cho giáo viên tìm hiểu những cái mới (mà nếu không nội dung dạy thì sẽ không tìm hiểu, do sức ỳ). Đặc biệt là các nội dung chọn, nội dung chuyên: việc chuẩn bị bài giảng cho một nội dung mới chuyên sâu có thể giúp ích trực tiếp cho việc nghiên cứu khoa học của giáo viên. Tất nhiên có nhiều người, do điều kiện công việc, phải dạy cùng một lớp (ví dụ như môn Toán lớp 12) trong nhiều năm. Để tránh trì trệ trong trường hợp đó, cần thường xuyên cải tiến phương pháp và nội dung giảng dạy (đưa vào những ví dụ minh họa mới và bài tập mới từ thực tế hiện tại, sử dụng những công nghệ mới và công cụ học tập mới, tìm các cách giải thích mới dễ hiểu hơn, v.v.)

1) Nên: Dạy và kiểm tra kiến thức học sinh theo lối “học để hiểu”

Không nên: Tạo cho học sinh thói quen học vẹt, chỉ nhớ mà không hiểu

Các nhà giáo dục học và thần kinh học trên thế giới đã làm nhiều phân tích và thí nghiệm cho thấy, khi bộ óc con người “hiểu” một cái gì đó (tức là có thể “make sense” cái đó, liên tưởng được với những kiến thức và thông tin khác đã có sẵn trong não) thì dễ nhớ nó (do thiết lập được nhiều “dây nối” liên quan đến kiến thức đó trong mạng thần kinh của não — một neuron thần kinh có thể có hàng chục nghìn dây nối đến các neuron khác), còn khi chỉ cố nhồi nhét các thông tin riêng lẻ vào não (kiểu học vẹt) mà không liên hệ được với các kiến thức khác đã có trong não, thì thông tin đó rất khó nhớ, dễ bị não đào thải.

Thực ra thì môn học nào cũng cần “hiểu” và “nhớ”, tuy rằng tỷ lệ giữa “hiểu” và “nhớ” giữa các môn khác nhau có khác nhau: nhưng toán học thì ngược lại: không cần nhớ nhiều lắm, nhưng phải hiểu được các kiến thức, và quá trình hiểu đó đòi hỏi nhiều công sức thời gian. Có những công thức và định nghĩa toán mà nếu chúng ta quên đi chúng ta vẫn có thể tự tìm lại được và dùng được nếu đã hiểu bản chất của công thức và định nghĩa đó, còn nếu chúng ta chỉ nhớ công thức và định nghĩa đó như con vẹt mà không hiểu nó, thì cũng không dùng được nó, và như vậy thì cũng không hơn gì người chưa từng biết nó. Ví dụ như công thức tính căn phức tạp, là một công thức hơi dài, chẳng bao giờ nhớ được chính xác nó, cứ mỗi lần đụng đến thì xem lại, nhớ được một lúc, rồi lại quên. Nhưng điều đó không nên băn khoăn, vì nếu hiểu bản chất, từ đó có thể tự nghĩ ra lại được công thức nếu cần thiết (tốn một vài phút) hoặc tra trên internet ra ngay.

Học sinh ngày nay (là những chuyên gia của ngày mai) có thể tra cứu rất nhanh mọi định nghĩa, công thức, v.v., nhưng để hiểu chúng thì vẫn phải tự hiểu, không có máy móc nào hiểu hộ được. Những năm trước,theo thông lệ, thường không cho phép học sinh sử dụng tài liệu trong các kỳ kiểm tra, thi cuối học kỳ, và đề bài thi hay có 1 câu hỏi lý thuyết (tức là phát biểu đúng 1 định nghĩa hay định lý gì đó thì được điểm). Nhưng trong thời đại mới, việc nhớ y nguyên các định nghĩa và định lý có ít giá trị, mà cái chính là phải hiểu để mà sử dụng được chúng. Bởi vậy, trong các kỳ kiểm tra, thi việc cho phép học sinh mang bất cứ tài liệu nào cần đặt ra, và đề kiểm tra, thi không còn các câu hỏi về nhớ như “phát biểu định lý” ? .... Thay vào đó là những bài tập (tương đối đơn giản, và thường gần giống các bài có trong các tài liệu nhưng đã thay tham số) để kiểm tra xem học sinh có hiểu và sử dụng được các kiến thức cơ bản không.

Về mặt hình thức, chương trình học ở Việt Nam (kể cả bậc phổ thông lẫn bậc đại học) khá nặng, nhưng là nặng về “nhớ” mà nhẹ về “hiểu”, và trình độ trung bình của học sinh Việt Nam thì yếu so với thế giới (tất nhiên vẫn có học sinh rất giỏi, nhưng tỷ lệ học sinh giỏi thực sự rất ít, và cũng khó so được với giỏi của phương Tây). Vấn đề không phải là do người Việt Nam sinh ra kém thông minh, mà là do điều kiện và phương pháp giáo dục, chứ trẻ em gốc Việt Nam lớn lên ở nước ngoài thường là thành công trong đường học hành. Hiện tượng rất phổ biến ở Việt Nam là học sinh học thuộc lòng các “kiến thức” trước mỗi kỳ kiểm tra, rồi sau khi kiểm tra xong thì “chữ thầy trả thầy”. Việt Nam rất cần cải cách chương trình giáo dục theo hướng tăng sự “hiểu” lên, và giảm sự “học gạo”, “nhớ như con vẹt”.

Nhiều học sinh tốt nghiệp loại giỏi toán ở Việt Nam, nhưng khi hỏi một số kiến thức khá cơ bản thì nhiều em lại không biết. Lỗi không phải tại các em mà có lẽ tại hệ thống giáo dục. Nhiều thầy cô giáo chỉ khuyến khích học sinh làm bài kiểm tra giống hệt lời giải mẫu của mình, chứ làm kiểu khác đi, tuy có thể thú vị hơn cách của thầy thì có khi lại bị trừ điểm. Nhiều trường hợp học sinh chỉ đạt điểm thi 7-8 lại giỏi hơn học sinh đạt điểm thi 9-10 vì kiểu chấm thi như vậy. Kiểu chấm điểm như thế chỉ khuyến khích học vẹt chứ không khuyến khích sự sáng tạo hiểu biết.

2) Nên: Dạy những cái cơ bản nhất, nhiều công dụng nhất

Không nên: Mất nhiều thời giờ vào những thứ ít hoặc không dùng đến

Trên đời có rất nhiều cái để học, trong khi thời gian và sức lực của chúng ta có hạn, và bởi vậy chúng ta luôn phải lựa chọn xem nên học (hay dạy học) cái gì. Nếu chúng ta phung phí quá nhiều thời gian vào những cái ít công dụng (hoặc thậm chí phản tác dụng, ví dụ như những lý thuyết về chính trị hay kinh tế trái ngược với thực tế), thì sẽ không còn đủ thời gian để học (hay dạy học) những cái quan trọng hơn, hữu ích hơn.

Tất nhiên, mức độ “quan trọng, hữu ích” của từng kiến thức đối với mỗi người khác nhau thì khác nhau, và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian, hoàn cảnh, sở trường, v.v. Ví dụ như học nói và viết tiếng Việt cho đàng hoàng là không thể thiếu với người Việt, nhưng lại không cần thiết với người Nga. Những người muốn làm nghề toán thì phải học nhiều về toán, còn học sinh định hướng nghiệp theo các ngành khác nói chung chỉ cần học một số kiến thức phổ thông cơ bản cơ bản nhất mà sẽ cần trong công việc của họ.

Ngay trong toán phổ thông, không phải các kiến thức nào cũng quan trọng như nhau. Và “độ quan trọng” và “độ phức tạp” là hai khái niệm khác nhau: không phải cái gì quan trọng cũng phức tạp khó hiểu, và không phải cái gì rắm rối khó hiểu cũng quan trọng. Giáo viên cần tránh dẫn dắt học sinh lao đầu vào những cái rắm rối phức tạp nhưng ít công dụng. Thay vào đó, cần dành nhiều thời gian cho những cái cơ bản, nhiều công dụng nhất. Nếu là cái vừa cơ bản và vừa khó, thì lại càng cần dành đủ thời gian cho nó, vì khí nắm bắt được nó tức là nắm bắt được một công cụ mạnh.

Một ví dụ là đạo hàm và tích phân. Đây là những khái niệm cơ bản vô cùng quan trọng trong toán học. Học sinh cần hiểu định nghĩa, bản chất và công dụng của chúng, và nắm được một số nguyên tắc cơ bản và công thức đơn giản, ví dụ như nguyên tắc Leibniz cho đạo hàm của một tích, hay công thức “đạo hàm của sin x bằng cos x”. Tuy nhiên nếu bắt học sinh học thuộc hàng trăm công thức tính đạo hàm và tích phân khách nhau, thì sẽ tốn thời gian vô ích vì phần lớn các công thức thức đó sẽ không dùng đến sau này, hoặc nếu dùng đến thì có thể tra cứu được dễ dàng. Ta đã từng có sách về tính tích phân cho học sinh, dày hơn 150 trang, với rất nhiều công thức phức tạp dài dòng (ví dụ như công thức tính tính phân của một hàm số có dạng thương của hai biểu thức lượng giác), mà ngay những người làm toán chuyên nghiệp cũng rất hiếm khi cần đến. Thay vì tốn nhiều thời gian vào những công thức phức tạp mà không cần dùng đó, học những thứ cơ bản khác sẽ có ích hơn. Những khái niệm và định lý chỉ được học một cách hình thức, không có liên hệ với các ví dụ cụ thể khác, thì đó là học “trên mây trên gió”.

Một ví dụ khác: các bất đẳng thức. Có những bất đẳng thức “có tên tuổi”, không phải vì nó “khó”, mà là vì nó có ý nghĩa (nó xuất hiện trong các vấn đề hình học, số học, v.v.). Chứ nếu học một đống hàng ngàn bất đẳng thức mà không biết chúng dùng để làm gì, thì khá là phí thời gian. Phần lớn các bất đẳng thức (không kể các bất đẳng thức có tính tổ hợp) có thể được chứng minh khá dễ dàng bằng một phương pháp cơ bản, là phương pháp dùng đạo hàm. Phương pháp này học sinh phổ thông có thể học được, nhưng thay vào đó học sinh lại được học các kiểu mẹo mực để chứng minh bất đẳng thức. Các mẹo mực có ít công dụng, chỉ dùng được cho bài toán này nhưng không dùng được cho bài toán khác (bởi vậy mới là “mẹo mực” chứ không phải “phương pháp”). “Mẹo mực” có thể làm cho cuộc sống thêm phong phú, nhưng nếu mất quá nhiều thời gian vào “mẹo mực” thì không còn thời gian cho những cái cơ bản hơn, giúp tiến xa hơn. Như là trong công nghệ, có cải tiến cái đèn dầu đến mấy thì nó cũng không thể trở thành đèn điện.

Học sinh lớp 10 giải bài toán tìm cực đại, dùng đạo hàm tính ngay ra điểm cực đại. Cách làm đó là do học sinh tự đọc sách mà ra chứ không được dạy. Nhưng khi viết lời giải thì lại phải giả vờ “đoán mò” điểm cực đại, rồi viết hàm số dưới dạng một số (giá trị tại điểm đó) cộng với một biểu thức hiển nhiên là không âm (ví dụ như vì có dạng bình phương) thì mới được điểm, chứ nếu viết đạo hàm thì mất hết điểm. Nếu như thầy giáo trừ điểm học sinh, vì học sinh giải bài thi bằng một phương pháp “cơ bản” nhưng “không có trong sách thầy”, thì điều đó sẽ góp phần làm cho học sinh học mẹo mực, thiếu cơ bản.

3) Nên: Giải thích bản chất và công dụng của các khái niệm mới một cách trực giác, đơn giản nhất có thể, dựa trên sự liên tưởng tới những cái mà học sinh đã từng biết.

Không nên: Đưa ra các khái niệm mới bằng các định nghĩa hình thức, phức tạp, tối nghĩa.

Các khái niệm toán học quan trọng đều có mục đích và ý nghĩa khi chúng được tạo ra. Và không có một khái niệm toán học quan trọng nào mà bản thân nó quá khó đến mức không thể hiểu được. Nó chỉ trở nên quá khó trong hai trường hợp: 1) người học chưa có đủ kiến thức chuẩn bị trước khi học khái niệm đó; 2) nó được giải thích một cách quá hình thức, rắm rối khó hiểu. Trong trường hợp thứ nhất, người học phải được hướng tới học những kiến thức chuẩn bị (ví dụ như trước khi học về các quá trình ngẫu nhiên phải có kiến thức cơ sở về xác suất và giải tích). Trong trường hợp thứ hai, lỗi thuộc về người dạy học và người viết sách dùng để học.

Các nghiên cứu về thần kinh học (neuroscience) cho thấy bộ nhớ “ngắn hạn” của não thì rất nhỏ (mỗi lúc chỉ chứa được khoảng 7 đơn vị thông tin ?), còn bộ nhớ dài hạn hơn thì chạy chậm. Thế nào là một đơn vị thông tin ? Tôi không có định nghĩa chính xác ở đây, nhưng ví dụ như dòng chữ “SEE YOU AGAIL” đối với một người Anh thì nó là một câu tiếng Anh chỉ chứa không quá 3 đơn vị thông tin, rất dễ nhớ, trong khi đối với một người Việt không biết tiếng Anh thì dòng chữ đó chứa đến hàng chục đơn vị thông tin – mỗi chữ cái là một đơn vị thông tin – rất khó nhớ. Một định nghĩa toán học, nếu quá dài và chứa quá nhiều đơn vị thông tin mới trong đó, thì học sinh sẽ rất khó khăn để hình dung toàn bộ định nghĩa đó, và như thế thì cũng rất khó hiểu định nghĩa.

Muốn cho học sinh hiểu được một khái niệm mới, thì cần phát biểu nó một cách sao cho nó dùng đến một lượng đơn vị thông tin mới ít nhất có thể (không quá 7 ?). Để giảm thiểu lượng đơn vị thông tin mới, cần vận dụng, liên tưởng tới những cái mà học sinh đã biết, dễ hình dung. Đấy cũng là cách mà các “cha đạo” giảng đạo cho “con chiên”: dùng ngôn ngữ giản dị, mà con chiên có thể hiểu được, để giảng giải những “tư tưởng lớn”. Khi có một khái niệm mới rất phức tạp, thì phải “chặt” nó thành các khái niệm nhỏ đơn giản hơn, dạy học các khái niệm đơn giản hơn trước, rồi xây dựng khái niệm phức tạp trên cơ sở các khái niệm đơn giản hơn đó (sau khi đã biến mỗi khái niệm đơn giản hơn thành “một đơn vị thông tin”).

Ví dụ: Khái niệm “nhóm”. Có (ít nhất) 2 cách định nghĩa khác nhau thế nào là một nhóm.

Cách 1: Một nhóm là một tập hợp, với 2 phép tính (phép nhân và phép nghịch đảo), một phần tử đặc biệt (phần tử đơn vị), thỏa mãn 4-5 tiên đề gì đó.

Cách 2: một nhóm là tập hợp các “đối xứng” (hay nói “rộng hơn” là các phép biến đổi bảo toàn một số tính chất) của một vật.

Cách 1 chính xác về mặt toán học, nhưng dài, khó nhớ, khó hiểu với người mới gặp khái niệm nhóm lần đầu. Cách 2 trực giác hơn, cho ngay được nhiều ví dụ minh họa cụ thể Tuy rằng cách thứ hai này “thiếu chặt chẽ” về toán học (không thấy phép nhân đâu trong định nghĩa, nhưng nó phản ánh đúng bản chất vấn đề của khái niệm nhóm, và nó cần dùng lượng một thông tin mới ít hơn nhiều so với cách 1. Tất nhiên toán học cần sự chặt chẽ logic. Nhưng sự chặt chẽ logic đó sẽ đến sau khi đã hiểu bản chất vấn đề (học sinh khi đã hiểu định nghĩa 2, thì sẽ hiểu ngay định nghĩa 1 chẳng qua là nhằm hình thức hóa một cách chặt chẽ định nghĩa 2), chứ không phải ngược lại.

Nói theo nhà toán học nổi tiếng V.I. Arnold, thì một định nghĩa tốt là 5 ví dụ tốt. Định nghĩa nào mà không có ví dụ minh họa thì “đáng ngờ”.Đi kèm với những khái niệm mới, định nghĩa mới, luôn cần những ví dụ minh họa (hay bài tập) cụ thể để thể hiện bản chất, ý nghĩa của khái niệm, định nghĩa đó.
Có những khái niệm toán học “rất khó hiểu”, không phải vì bản thân nó “quá khó hiểu”, mà là bởi vì nó được trình bầy một cách rắm rối tối nghĩa.

Khi đọc các tài liệu toán cũng rất vất vả chật vật để hiểu các khái niệm trong đó, và tất nhiên có nhiều khái niệm, vẫn không hiểu và có thể sẽ không bao giờ hiểu. Có những khi hiểu ra rồi thì lại thấy “nó đơn giản mà tại sao người ta viết nó rắm rối thế”: khái niệm xác suất thống kê là một ví dụ: hình thức, phức tạp mà không thể hiện rõ bản chất của các khái niệm. Tất nhiên cũng có cách định nghĩa về xác suất thống kê viết dễ hiểu, giải thích được đúng bản chất khái niệm mà không cần phải dùng đến những ngôn ngữ toán học “đao to búa lớn”.

Trên thế giới, có nhiều người mà dường như “nghề” của họ là biến cái dễ hiểu thành cái khó hiểu, biến cái đơn giản thành cái rối ren. Những người làm quảng cáo, thì khiên cho người tiêu dùng không phân biệt nổi hàng nào là tốt thật đối với họ nữa. Những người làm thuế, thì đẻ ra một bộ thuế rắm rối người thường không hiểu nổi, với một tỷ lỗ hổng trong đó, v.v. Ngay trong khoa học, có những người có quan niệm rằng cứ phải “phức tạp hóa” thì mới “quan trọng”. Thay vì nói “Hình chiếu của đường tròn” thì họ nói “có 1 đường tròn, mà ảnh qua ánh xạ tên gọi là phép chiếu vuông góc, thuộc các phép dời hình …”

Một người “thầy” thực sự, phải làm cho những cái khó hiểu trở nên dễ hiểu đối với học trò.

4) Nên: Luôn luôn quan tâm đến câu hỏi “để làm gì ?”

Không nên: Không cho học sinh biết họ học những thứ giáo viên dạy để làm gì, hay tệ hơn là bản thân giáo viên cũng không biết để làm gì.

Quá trình học (tiếp thu thông tin, kiến thức và kỹ năng mới) là một quá trình tự nhiên và liên tục của con người trong suốt cuộc đời, xảy ra ở mọi nơi mọi lúc (ngay cả giấc ngủ cũng góp phần trong việc học) chứ không phải chỉ ở trường hay khi làm bài tập về nhà. Những cái mà bộ não chúng ta tiếp thu nhanh nhất là những cái mà chúng ta thấy thích, và/hoặc thấy dễ hiểu, và/hoặc thấy quan trọng. Ngược lại, những cái mà chúng ta thấy nhàm chán, vô nghĩa, không quan trọng, sẽ bị bộ não đào thải không giữ lại, dù có cố nhồi vào. Bởi vậy, muốn cho học sinh tiếp thu tốt một kiến thức nào đó, cần làm cho học sinh có được ít nhất một trong mấy điều sau:

1. Thích thú tò mò tìm hiều kiến thức đó;

2. Thấy cái đó là có nghĩa (liên hệ được nhiều với những hiểu biết và thông tin khác mà học sinh đã có trong đầu);

3. Thấy cái đó là quan trọng (cần thiết, có nhiều ứng dụng).

Tất nhiên 3 điểm đó liên quan tới nhau, ở đây chủ yếu nói đến điểm thứ 3, tức là làm sao để học sinh thấy rằng những cái họ được học là quan trọng, cần thiết.

Một kiến thức đáng học là một kiến thức có ích gì đó, “để làm gì đó”. Nếu như học sinh học một kiến thứ với lý do duy nhất là “để thi đỗ” chứ không còn lý do nào khác, thì khi thi đỗ xong rồi kiến thức sẽ dễ bị đào thải khỏi não. Những môn thực sự đáng học, là những môn, mà kể cả nếu không phải thi, học sinh vẫn muốn được học, vì nó đem lại sự hiểu biết mà học sinh muốn có được và những kỹ năng cần cho cuộc sống và công việc của học sinh sau này. Còn những môn mà học “chỉ để thi đỗ” có lẽ là những môn không đáng học.

Giáo viên có thể biết là “học chúng để làm gì”, “vì sao đáng học”, trong khi mà học sinh chưa chắc đã biết. Chính bởi vậy luôn cần đặt câu hỏi “để làm gì”, khuyến khích học sinh đặt câu hỏi đó, và tìm những trả lời cho câu hỏi đó. Một trả lời giáo điều chung chung kiểu “nó quan trọng, phải học nó” ít có giá trị, mà cần có những trả lời cụ thể hơn, “nó quan trọng ở chỗ nào, dùng được vào trong những tình huống nào, đem lại các kỹ năng gì, v.v.”

Tiếc rằng việc giải thích ý nghĩa và công dụng của các kiến thức cho học sinh còn bị coi nhẹ. Ví dụ hỏi: “Phương pháp toạ độ dùng làm gì ?Phương trình đường nào xuất phát từ thực tế đời sống”. Ở câu hỏi nào học sinh cũng trả lời là không hề biết. Nếu như giáo viên giới thiệu cho học sinh biết các công dụng của những kiến thức họ được học qua các ví dụ (ví dụ như những phương trình đường conic xuất hiện thế nào trong các mô hình thiết diện mặt nón, hình kích thước quá khổ tờ giấy), thì có thể họ sẽ thấy những cái họ học có nghĩa hơn, đáng để học hơn, dễ nhớ hơn.

Trong công việc sau này của học sinh khi đã ra trường, thì câu hỏi “để làm gì” lại càng đặc biệt quan trọng. Mọi hoạt động của một tổ chức hay doanh nghiệp tất nhiên đều phải có mục đích. Ngay trong việc học, có nhiều học sinh không đạt được kết quả học tập, không phải là vì “dốt” mà là vì “không biết lựa chọn vấn đề để học”, mất thời giờ học vào những cái ít ý nghĩa. Bởi vậy học sinh cần làm quen với việc sử dụng câu hỏi “để làm gì” trong học, như một vũ khí lợi hại trong việc chọn lựa các quyết định của mình.

5) Nên: Tổ chức kiểm tra, thi cử sao cho nhẹ nhàng nhất, phản ánh đúng trình độ học sinh, và khiến cho học sinh học tốt nhất.

Không nên: Chạy theo thành tích, hay tệ hơn là gian trá và khuyến khích gian trá trong thi cử.

Việc kiểm tra đánh giá trình độ và kết quả học tập của học sinh (cũng như trình độ và kết quả làm việc của người lớn) là việc cần thiết. Nó cần thiết bởi có rất nhiều quyết định phải dựa trên những sự kiểm tra và đánh giá đó, ví dụ như học sinh có đủ trình độ để có thể hiểu những môn học tiếp theo không, có đáng tin tưởng để giao một việc nào đó cho không, có xứng đáng được nhận học bổng hay giải thưởng nào đó không, v.v. Bởi vậy giáo viên không thể tránh khỏi việc tổ chức kiểm tra, thi cử cho học sinh. Cái chúng ta có thể tránh, đó là làm sao để đừng biến các cuộc kiểm tra thi cử đó thành “sự tra tấn” học sinh, và có khi cả giáo viên.

Một “định luật” trong giáo dục là THI SAO HỌC VẬY. Tuy mục đích cao cả dài hạn của việc học là để mở mang hiểu biết và rèn luyện kỹ năng, nhưng phần lớn học sinh học theo mục đích ngắn hạn, tức là để thi cho đỗ hay cho được giải. Trách nhiệm của người thầy và của hệ thống giáo dục là làm sao cho hai mục đích đó trùng với nhau, tức là cần tổ chức thi cử sao cho học sinh nào mở mang hiểu biết và rèn luyện các kỹ năng được nhiều nhất cũng là học sinh đạt kết quả tốt nhất trong thi cử.

Nếu “thi lệch” thì học sinh sẽ học lệch. Ví dụ như thi tốt nghiệp phổ thông, nếu chỉ thi có 3-4 môn thì học sinh cũng sẽ chỉ học 3-4 môn mà bỏ bê các môn khác. Trong một môn thi, nếu chỉ hạn chế đề thi vào một phần kiến thức nào đó, thì học sinh sẽ chỉ tập trung học phần đó thôi, bỏ quên những phần khác. Nếu đề thi toàn bài mẹo mực, thì học sinh cũng học mẹo mực mà thiếu cơ bản. Nếu thi cử có thể gian lận, thì học hành cũng không thực chất. Nếu thi cử quá nhiều lần, thì học sinh sẽ rất mệt mỏi, suốt ngày phải ôn thi, không còn thì giờ cho những kiến thức mới và những thứ khác. Nếu thi theo kiểu bắt nhớ nhiều mà suy nghĩ ít, thì học sinh sẽ học thành những con vẹt, học thuộc lòng các thứ, mà không hiểu, không suy nghĩ. Mấy đề thi trắc nghiệm mấy năm gần đây đang có xu hướng nguy hiểm như vậy: đề thi dài, với nhiều câu hỏi tủn mủn, đòi hỏi học sinh phải nhớ mà điền câu trả lời, chứ không đòi hỏi phải đào sâu suy nghĩ gì hết. Thậm chí thi học sinh giỏi toán toàn quốc cũng có lần được thi theo kiểu bài tủn mủn như vậy, và kết quả là việc chọn lọc đội tuyển thi toán quốc tế năm đó bị sai lệch nhiều. Bản thân chuyện thi trắc nghiệm không phải là một chuyện tồi, thi trắc nghiệm có những công dụng của nó, cách dùng nó trong thi cử ở ta chưa được tốt.

Thi cử có thể chia làm 2 loại chính: loại kiểm tra (ví dụ như kiểm tra xem có đủ trình độ để đáng được lên lớp hay được cấp bằng không), và loại thi đấu (tuyển chọn, khi mà số suất hay số giải thưởng có hạn). Loại thi đấu thì cần thang điểm chi tiết (ví dụ như khi hai người có điểm xấp xỉ nhau mà chỉ có 1 suất thì vẫn phải loại 1 người, và khi đó thì chênh nhau ¼ điểm cũng quan trọng), nhưng đối với loại kiểm tra, không cần chấm điểm quá chi li: những thang điểm quá nhiều bậc điểm (ví dụ như thang điểm 20, tính từng ½ điểm một, tổng cộng thành 41 bậc điểm) là không cần thiết, mà chỉ cần như các nước Nga, Đức hay Mỹ (chỉ có 4-5 bậc điểm) làm là đủ. Kinh nghiệm chấm thi cho thấy chấm chi li từng điểm nhỏ một chỉ mất thời giờ mà không thay đổi bản chất của điểm kiểm tra: học sinh nào kém, học sinh nào giỏi chỉ cần nhìn qua tổng thể bài kiểm tra là biết ngay.

Kiểm tra nói là một hình thức kiểm tra khá tốt: trong vòng 10-15 phút hỏi thi cộng với một vài bài tập làm tại chỗ là giáo viên có thể “ước lượng” được mức hiểu kiến thức của học sinh khá chính xác. Tuy nhiên, kiểu thi nói còn rất hiếm ở ta. Có nhiều người lo ngại rằng thi nói sẽ khó khách quan. Điều này có lẽ đúng trong điều kiện hiện nay, khi còn có giáo viên thiếu nghiêm túc trong kiểm tra, thi cử. Điểm kiểm tra để “tính sổ” trong điều kiện như vậy thì cần qua thi viết cho khách quan, đỡ bị gian lận. Nhưng không phải bài kiểm tra nào cũng cần “tính vào sổ”. Số lượng các kiểm tra “chính thức”, “tính sổ” nên ít thôi, ngoài ra thay bằng những kiểm tra “không chính thức”, không phải để tính điểm học sinh, mà để giúp học sinh hay phụ huynh học sinh biết xem trình độ đang ra sao, có những điểm yếu điểm mạnh gì. Điểm không phải là điểm “7” hay “10” mà là điểm “phần này đã nắm tốt”, “phần kia còn phải học thêm”.

Việc giao nhiều bài tập bắt buộc về nhà, rồi kiểm tra tính điểm các bài đó, nếu không cẩn thận có thể biến thành “nhục hình” với học sinh. Nếu học sinh ngày nào cũng phải thức quá nửa đêm làm bài tập, không đủ thời gian để ngủ, thì điều đó sẽ làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường của học sinh. Chúng ta nên chú ý rằng giấc ngủ cũng là một phần quan trọng trong quá trình học: chính trong giấc ngủ, não được “làm vệ sinh”, thải bớt “rác” ra khỏi não để có chỗ cho hôm sau đón nhận thông tin mới, và sắp xếp lại các thông tin thu nhận trong ngày lại, liên kết với các thông tin khác đã có trong não, để nó trở thành “thông tin dài hạn”, “kiến thức”. Giai đoạn con người học nhanh nhất là khi còn ít tuổi, cũng là giai đoạn có nhu cầu ngủ nhiều nhất, còn càng lớn tuổi học cái mới càng ít đi và nhu cầu ngủ cũng ít đi. Trình độ học sinh, ít ra là trong môn toán, không thể hiện qua việc “đã làm bao nhiêu bài tập dạng đó” mà là “nếu gặp bài tập như vậy có làm được không”. Tất nhiên muốn hiểu biết thì phải luyện tập. Nhưng cứ làm thật nhiều bài tập giống nhau như một cái máy mà không suy nghĩ, thì phí thời gian. Thay vào đó chỉ cần làm ít bài hơn, nhưng làm bài nào hiểu bài đó. Theo tôi nói chung không nên tính điểm bắt buộc cho các bài tập về nhà, mà thay vào đó tính điểm thưởng thì tốt hơn.

Một điều khá phổ biến và đáng lo ngại là học sinh được chính thầy cô giáo dạy cho sự làm ăn gian dối. Có khi giáo viên làm thể để “lấy thành tích” cho mình. Ví dụ như khi có đoàn kiểm tra đến dự lớp, thì dặn trước là cả lớp phải giơ tay xin phát biểu, cô sẽ chỉ gọi mấy bạn đã nhắm trước thôi. Hay là giao bài tập rất khó về nhà cho học sinh, mà biết chắc là học sinh không làm được nhưng bố mẹ học sinh sẽ làm hộ cho, để lấy thành tích dạy giỏi. Hoặc là mua bán điểm với học sinh: cứ nộp thầy 1 triệu thì lên 1 điểm chẳng hạn. Nhưng cũng có nhiều trường hợp mà giáo viên có ý định tốt, vô tư lợi, nhưng vì quan điểm là “làm như thế là để giúp học sinh” nên tìm cách cho học sinh “ăn gian” để được thêm điểm.

Trong hầu hết các trường hợp, thì khuyến khích học sinh gian dối là làm hại học sinh. Như Mark Twain có nói: ” It is better to deserve honors and not have them than to have them and not deserve them.” Có gắn bao nhiêu thành tích rởm vào người, thì cũng không làm cho người trở nên giá trị hơn. Học sinh mà được dạy thói làm ăn gian dối từ bé, thì có nguy cơ trở thành những con người giả dối, mất giá trị. Tất nhiên, trong một xã hội mà cơ chế và luật lệ “ấm ớ”, và gian dối trở thành phong trào, ai mà không gian dối, không làm sai luật thì thiệt thòi không sống được, thì buộc người ta phải gian dối. Chúng ta không phê phán những hành động gian dối do “hành cảnh bắt buộc”. Nhưng chúng ta đừng lạm dụng “vũ khí” này, và hãy hướng cho chọ sinh của chúng ta đến một xã hội mới lành mạnh hơn, mà ở đó ít cần đến sự gian dối. Để đạt được vậy, tất nhiên các “luật chơi” phải được thay đổi sao cho hợp lý và minh bạch hơn.

Tất nhiên, có nhiều người hám “danh hão” và làm ăn giả dối, ngay cả giáo viên có trình độ cao, nhưng vì “quá hám danh” nên dẫn đến làm ăn giả dối. Nói chung, ai đi học cũng từng quay cóp, tất nhiên chẳng có gì để tự hào vê chuyện đó, nhưng cũng không đến nỗi “quá xấu hổ” khi mà những người xung quanh cũng quay cóp. Chúng ta là con người thì không hoàn thiện, nhưng hãy hướng tới hoàn thiện, giúp cho các thế hệ sau hoàn thiện hơn.

6) Nên: Dạy học nghiêm túc, tôn trọng học sinh.

Không nên: Dạy qua quít, coi thường học sinh

Điều trên gần như là hiển nhiên. Có những giáo viên dạy học qua quít, nói lảm nhảm học sinh không hiểu, bị học sinh than phiền rất nhiều, ai mà dạy học cùng ê-kíp với họ thì khổ cực lây. Người nào mà không thích hoặc không hợp với dạy học, thì nên chuyển việc. Nhưng đã nhận việc có gắn dạy học (như là công việc gồm cả quản lý và giảng dạy) thì phải làm việc đó cho nghiêm túc. Dù có “tài giỏi” đến đâu, cũng không nên tự đề cao mình quá mà coi thường học sinh.

Có một số bạn trẻ, bản thân chưa có đóng góp gì quan trọng, nhưng đã vội chê bai những người thầy của mình, là những người có những hạn chế về trình độ và kết quả giảng dạy (do điều kiện, hoàn cảnh) nhưng có nhiều cống hiến trong đào tạo, như thế không nên.

Nên: Đối thoại với học sinh, khuyến khích học sinh đặt câu hỏi.

Không nên: Tạo cho học sinh thói quen học thụ động kiểu thầy đọc trò chép

Qua thảo luận, hỏi đáp mới biết học sinh cần những gì, vướng mắc những gì, bài giảng như thế đã ổn chưa, … Khi học sinh đặt câu hỏi tức là có suy nghĩ và não đang ở trạng thái muốn “hút” thông tin. Học sinh nhiều khi muốn hỏi nhưng ngại, nếu được khuyến khích thì sẽ hỏi.

Nên: Cho học sinh thấy rằng họ có thể thành công nếu có quyết tâm

Không nên: Nhạo báng học sinh kém

Việc giáo viên sỉ nhục học sinh, ví dụ như viết lên bài thi của học sinh những câu kiểu “thứ mày đi học làm gì cho tốn tiền” hoặc “đây là phần tử nguy hiểm cho xã hội”. Như người ta thường nói “người phụ nữ được khen đẹp thì sẽ đẹp lên, bị chê xấu thì sẽ xấu đi”. Học sinh bị đối xử tồi tệ, coi như “đồ bỏ đi”, thì sẽ bị ức chế không học được nữa, việc học trở thành “địa ngục”. Nhưng nếu được đối xử tử tế, cảm thấy được tôn trọng cảm thông, thì họ sẽ cố gắng, dễ thành công hơn. Nếu họ có “rớt”, thì họ vẫn còn nhiều cơ hội khác để thành công, miễn sao giữ được niềm tin và ý chí. Học sinh học kém, nhiều khi không phải là do không muốn học hoặc không đủ thông minh để học, mà là do có những khó khăn nào đó, nếu được giải tỏa thì sẽ học được. Trẻ em sinh ra thiếu hiểu biết chứ không ngu ngốc. Nếu khi lớn lên trở thành người ngu ngốc, không biết suy nghĩ, thì là do hoàn cảnh môi trường và lỗi của hệ thống giáo dục. Người “thầy” thực sự phải giúp học sinh tìm lại được sự thông minh của mình, chứ không làm cho họ “đần độn” đi.

Nên: Cho học sinh những lời khuyên chân thành nhất, hướng cho họ làm những cái mà giáo viên thấy sẽ có lợi nhất cho họ, đồng thời cho họ tự do lựa chọn những gì họ thích.

Không nên: Biến học sinh thành “tài sản” của mình, bắt họ phải làm theo cái mình thích. Các bậc cha mẹ cũng không nên bắt con cái phải đi theo những sở thích của cha mẹ, mà hãy để cho chúng lựa chọn cái chúng thích.

7) Nên: Hướng tới chất lượng.

Không nên: Chạy theo số lượng và hình thức

Không chỉ trong dạy học, mà trong hầu hết mọi lĩnh vực khác, chất lượng là cái đặc biệt quan trọng. Ví dụ như trong kinh tế, sự phát triển bền vững chính là sự phát triển về chất. Chúng ta không thể tăng khối lượng của các sản phẩm hay dịch vụ lên “mỗi năm 5-7%” mãi được, vì tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn, nhưng cái chúng ta có thể tăng lên, đó là chất lượng. Nếu chúng ta cứ phá rừng phá núi, hủy hoại môi trường để đạt con số % phát triển GDP, thì có nguy cơ biến đất nước thành bãi rác. Cái máy tính bỏ túi ngày nay “khỏe hơn” cả một “khối thép” máy tính nặng hàng chục tấn của thế kỷ trước, đó là phát triển về chất. Cùng là đồ ăn với lượng calor như nhau, nhưng chất lượng khác nhau thì giá trị có thể chênh nhau hàng chục lần. Ở ta, đồ ăn không đảm bảo vệ sinh và chứa nhiều chất độc nên giá trị thấp, tuy giá có thể rẻ nhưng tính tỷ lệ chất lượng chia cho giá có khi vẫn thấp; Trong văn học, cũng có những tác phẩm văn học mà những thế kỷ sau người ta vẫn còn nhớ đến, trong khi có hàng nghìn, hàng vạn tác phẩm văn học khác nhanh chóng rơi vào lãng quên. Trong giáo dục, chất lượng cũng là cái cực kỳ quan trọng. Ảnh hưởng của một người thầy là rất lớn: trực tiếp đến hàng trăm, hàng nghìn học trò, và gián tiếp có thể đến hàng triệu người. Giá trị của giáo dục khó qui đổi thành tiền (một người vô văn hóa, thì có đắp thêm 1 triệu USD vào thì vẫn vô văn hóa). Chất lượng người thày tốt lên thì làm cho chất lượng xã hội tốt lên, và cái sự thay đổi chất lượng đó không đo được bằng tiền. Nhưng có thể hình dung một cách thô thiển là, một người thày tốt đem lại lợi ích cho học trò thêm hàng nghìn hay thậm chí hàng chục nghìn USD (thể hiện qua việc học trò có được việc tốt hơn, làm ra nhiều tiền của hơn …) so với một người thầy không tốt bằng. Với hàng trăm hay hàng nghìn học trò “qua tay” trong cuộc đời, thì một người thầy tốt có thể đem lại lợi ích hàng trăm nghìn, hay thậm chí hàng triệu USD, nhiều hơn cho xã hội so với một người thầy kém hơn.

Muốn có chất lượng tốt, thì chất lượng phải được (xã hội) coi trọng đúng mức, và (người thầy) phải chú tâm tìm cách nâng cao chất lượng. Các giáo viên ở các nước tiên tiến thường không phải dạy quá nhiều giờ (trung bình khoảng 12 tiếng một tuần), và cũng không phải lo “kiếm cơm thêm” ngoài công việc chính. Họ có thời giờ để tiếp cận thông tin khoa học mới, chuẩn bị bài giảng cho tử tế, suy nghĩ cải tiến cách dạy cho hay, … (đấy là đối với những người có ý thức trong việc dạy học). Ở ta, các giáo viên dạy quá nhiều giờ, ngoài giờ chính thức đã nhiều còn dạy thêm tràn lan, có người “bán cháo phổi” liên tục một ngày đến mười mấy tiết. Họ bù lại việc thừ lao cho từng giờ dạy thấp, bằng việc dạy rất nhiều giờ. Nhưng trong điều kiện như vậy, thì họ sẽ dạy “như cái máy”, ít suy nghĩ, ít nhiệt tình với học sinh, ít thời gian chuẩn bị, không có thời giờ cập nhật kiến thức, khó mà có chất lượng cao được.

Xu hướng của thời đại internet, là các giáo viên có chất lượng dạy học cao sẽ ngày càng trở nên có giá trị, trong khi những ai dạy dở sẽ ngày càng mất giá trị. Trong điều kiện “không có lựa chọn”, thì thày dạy hay dạy dở thế nào học sinh “vẫn phải học thầy”, nhưng khi có lựa chọn, học sinh sẽ chọn học thầy hay, không đến học thầy dở. Việc điểm danh để bắt học sinh đi học, theo tôi là một hình thức giữ kỷ luật thô thiển kém hiệu quả. Thay vào điểm danh, nếu dạy hay, dạy cái có ý nghĩa, thì không bắt học sinh cũng tự động “tranh nhau” đi học. Internet sẽ tạo điều kiện cho học sinh tìm đến thầy hay dễ dàng hơn, qua các bài giảng video, các bài giảng online, … Các giáo viên sẽ phải giảng ít giờ hơn trước, nhưng chuẩn bị cho mỗi bài giảng nhiều hơn, và mỗi bài giảng hay sẽ đến được với nhiều học sinh hơn qua internet.

Bí quyết để đạt được những kết quả có giá trị như vậy là gì ? Đó là: dạy học “thực sự” , được cấp lương bổng tốt để yên tâm tập trung dạy học (và để học những kiến thức cần thiết phục vụ cho việc dạy), có điều kiện làm việc tốt, và không bị sức ép của những thứ hình thức (như phải thi đạt chuẩn, phải có mấy SKKN, …) hay sức ép về tài chính làm cản trở dạy học. Ở ta, bao giờ tạo được những điều kiện như vậy, thì mới hy vọng có nhiều học sinh “ra lò” trở thành người lao động, nhà khoa học có năng lực thực sự.

Theo Website của GS.Nguyễn Tiến Dũng.

Những đóng góp của Cauchy cho toán học

CauchyAugustin Louis Cauchy (đôi khi tên họ được viết Cô-si) là một nhà toán học người Pháp sinh ngày 21 tháng 8 năm 1789 tại Paris và mất ngày 23 tháng 5 năm 1857 cũng tại Paris. Ông vào học Trường Bách khoa Paris (École Polytechnique) lúc 16 tuổi. Năm 1813, ông từ bỏ nghề kỹ sư để chuyên lo về toán học. Ông dạy toán ở Trường Bách khoa và thành hội viên Hàn lâm viện Khoa học Pháp.

Công trình lớn nhất của ông là lý thuyết hàm số với ẩn số tạp. Ông cũng đóng góp rất nhiều trong lãnh vực toán tích phân và toán vi phân. Ông đã đặt ra những tiêu chuẩn Cauchy để nghiên cứu về sự hội tụ của các dãy trong toán học.

Tên của Cauchy được đặt cho 1 miệng núi lửa trên Mặt trăng.

CÁC ĐÓNG GÓP CỦA CAUCHY VỀ LÝ THUYẾT PHƯƠNG TRÌNH VI PHÂN

1) Điều kiện biên Cauchy trong lý thuyết phương trình vi phân thường và phương trình vi phân đạo hàm riêng.

2) Phương trình Cauchy-Euler là một phương trình vi phân tuyến tính thuần nhất thông thường với hệ số biến. Cho $y^n(x)$ là đạo hàm cấp $n$ với biến số $x$ của hàm số $y(x)$. Khi đó phương trình Cauchy–Euler bậc $n$ có dạng $$x^n y^{(n)}(x) + a_{n-1} x^{n-1} y^{(n-1)}(x) + \cdots + a_0 y(x) = 0.$$

Dạng bậc hai: $$x^2\dfrac{d^2y}{dx^2} + ax\dfrac{dy}{dx} + by = 0.$$

3) Định lý Cauchy–Kowalevski trong lý thuyết phương trình vi phân từng phần

4) Định lý Cauchy-Peano trong lý thuyết phương trình vi phân.

5) Bài toán Cauchy trong lý thuyết phương trình vi phân

CÁC ĐÓNG GÓP CỦA CAUCHY VỀ LÝ THUYẾT CHUỖI

6) Dấu hiệu hội tụ Cauchy Cho dãy dương, không tăng $f(n)$, tổng $$\sum_{n=1}^{\infty}f(n)$$ hội tụ khi và chỉ khi tổng $$\sum_{n=0}^{\infty} 2^{n}f(2^{n})$$ hội tụ.

Hơn nữa, ta còn có $$\sum_{n=1}^{\infty}f(n) \leq \sum_{n=0}^{\infty} 2^{n}f(2^{n}) \leq 2 \sum_{n=1}^{\infty}f(n). $$

7) Tiêu chuẩn hội tụ Cauchy cho chuỗi số:
Chuỗi số thực hoặc phức $\sum_{i=0}^\infty a_i$ hội tụ khi và chỉ khi với mọi số $\varepsilon>0$ tồn tại số nguyên dương $N$ sao cho $$|a_{n+1}+a_{n+2}+\cdots+a_{n+p}|<\varepsilon$$

(với mọi $n > N$ và $p \geq 1$).

* Một chuỗi $s_n:=\sum_{i=0}^n a_i$ được gọi là chuỗi Cauchy nếu với bất kỳ $\varepsilon>0$ tồn tại số nguyên dương $N$ sao cho với mọi $n, m > N$ ta có $$|s_m-s_n|<\varepsilon.$$

Một chuỗi số hội tụ khi và chỉ khi nó là chuỗi Cauchy.

8)Tiêu chuẩn hội tụ Maclaurin-Cauchy. Cho số nguyên dương $N$ và hàm số $f$ không âm, đơn điệu giảm trên khoảng$[N, \infty)$. Khi đó chuỗi $$\sum_{n=N}^\infty f(n)$$ hội tụ khi và chỉ khi $$\int_N^\infty f(x)\,dx$$ là hữu hạn.


Đặc biệt, nếu tích phân phân kì thì chuỗi cũng phân kì.

ĐÓNG GÓP CỦA CAUCHY VỀ ĐẲNG THỨC VÀ BẤT ĐẲNG THỨC

9) Đẳng thức Binet–Cauchy.

$$\biggl(\sum_{i=1}^n a_i c_i\biggr)\biggl(\sum_{j=1}^n b_j d_j\biggr) = \biggl(\sum_{i=1}^n a_i d_i\biggr)\biggl(\sum_{j=1}^n b_j c_j\biggr) + \sum_{1\le i < j \le n} (a_i b_j - a_j b_i ) (c_i d_j - c_j d_i )$$

Đẳng thức trên đúng với mọi số thực hoặc phức (hay rộng hơn là các phần tử của một vành giao hoán]).


Cho $$a_i = c_i ,b_i = d_i $ , ta có đẳng thức Lagrange, đó là một dạng mạnh hơn của BĐT Cauchy–Schwarz trong không gian Euclid $\mathbb{R}^n$.

Khi $n = 3$, Biểu thức thứ nhất và biểu thức thứ 2 của vế phải trở thành bình phương độ lớn của tích vô hướng và tích có hướng của hai vector. Ta có thể viết $$(a \cdot c)(b \cdot d) = (a \cdot d)(b \cdot c) + (a \wedge b) \cdot (c \wedge d)\,$$ trong đó $a, b, c, d$ là các vector.

Công thức còn được viết dưới dạng $$(a \wedge b) \cdot (c \wedge d) = (a \cdot c)(b \cdot d) - (a \cdot d)(b \cdot c).\,$$

Đặc biệt, nếu $a = c$ và $b = d$, thì $$|a \wedge b|^2 = |a|^2|b|^2 - |a \cdot b|^2. \,$$

Khi cả hai vecto là vectơ đơn vị thì ta có hệ thức quen thuộc $$1= \cos^2(\phi)+\sin^2(\phi)$$ trong đó $\phi$ là góc giữa hai vectơ.


10) Công thức Cauchy-Binet. Tổng quát hóa của đẳng thức Binet-Cauchy: $$\det(AB) = \sum_{\scriptstyle S\subset\{1,\ldots,n\}\atop\scriptstyle|S|=m} \det(A_S)\det(B_S),$$

11) Định thức Cauchy (định thức của ma trận Cauchy)
Các số $a_1,a_2,\ldots,a_n,b_1,b_2,\ldots,b_n$ là các số thực cho trước sao cho $a_i+b_j\not=0\forall i,j$. Định thức Cauchy ( Cô-si ) được định nghĩa như sau:

$$D=\begin{vmatrix}\dfrac{1}{a_1+b_1} & \dfrac{1}{a_1+b_2} & \ldots & \dfrac{1}{a_1+b_n}\\\dfrac{1}{a_2+b_1} & \dfrac{1}{a_2+b_2} & \ldots & \dfrac{1}{a_2+b_n}\\\vdots & \vdots & \ddots & \vdots\\\dfrac{1}{a_n+b_1} & \dfrac{1}{a_n+b_2} & \ldots & \dfrac{1}{a_n+b_n}\\\end{vmatrix}$$

Ta tính được: $$D=\dfrac{\prod_{i\not=j}(a_j-a_i)\prod_{i\not=j}(b_j-b_i)}{\prod_{i,j}(a_i+b_j)}.$$

12) Bất đẳng thức Cauchy - Schwarz, còn được gọi là bất đẳng thức Schwarz, bất đẳng thức Cauchy, hoặc bằng cái tên khá dài là bất đẳng thức Cauchy–Bunyakovski–Schwarz, à một bất đẳng thức thường được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của toán học, chẳng hạn trong đại số tuyến tính dùng cho các vector, trong giải tích dùng cho các chuỗi vô hạn và tích phân của các tích, trong lý thuyết xác suất dùng cho các phương sai và hiệp phương sai. Tài liệu giáo khoa Việt Nam gọi bất đẳng thức này là bất đẳng thức Bunyakovski hoặc bằng tên dài nói trên nhưng đảo thứ tự là bất đẳng thức Bunyakovski–Cauchy-Schwarz nên thường viết tắt là bất đẳng thức BCS . Cũng cần tránh nhầm lẫn với bất đẳng thức trung bình cộng và trung bình nhân mà tài liệu giáo khoa tại Việt Nam gọi là bất đẳng thức Cauchy.

Bất đẳng thức này phát biểu rằng nếu $x$ và $y$ là các phần tử của không gian tích trong số thực hay số phức thì $$|\langle x,y\rangle|^2 \leq \langle x,x\rangle \cdot \langle y,y\rangle.$$

Dấu đẳng thức xảy khi và chỉ khi $x$ và $y$ phụ thuộc tuyến tính (hay nói theo ý nghĩa hình học là chúng song song với nhau). Một trường hợp đặc biệt nữa của $x$ và $y$ là khi chúng trực giao (hay nói theo ý nghĩa hình học là vuông góc ) nhau thì tích trong của chúng bằng 0.

Như vậy, có vẻ như bất đẳng thức này cho thấy có mối liên quan giữa khái niệm "góc của hai vector" với khái niệm tích trong, mặc dầu các khái niệm của hình học Euclide có thể không còn mang đầy đủ ý nghĩa trong trường hợp này, và ở mức độ nào đấy, nó cho thấy ý niệm các không gian tích trong là một sự tổng quát hoá của không gian Euclide.

Một hệ quả quan trọng của bất đẳng thức Cauchy-Schwarz: tích trong là một hàm liên tục .

Một dạng khác của bất đẳng thức Cauchy-Schwarz được phát biểu dưới đây bằng cách dùng ký hiệu không gian vector chuẩn, với chuẩn ở đây được hiểu là chuẩn trên không gian tích trong $$ |\langle x,y\rangle| \leq \|x\| \cdot \|y\|.\, $$

Năm 1821, Cauchy chứng minh bất đẳng thức này trong trường hợp các vector thực và hữu hạn chiều và đến năm 1859, học trò của Cauchy là V.Ya. Bunyakovsky nhận xét rằng khi chúng ta lấy giới hạn chúng ta có thể thu được dạng tích phân của bất đẳng thức này. Kết quả tổng quát trong trường hợp không gian tích trong được chứng minh bởi K.H.A. Schwarz vào năm 1885.

Hệ quả
* Trong không gian tích trong của các hàm giá trị phức khả tích-bình phương, chúng ta có $$\left|\int f(x)g(x)\,dx\right|^2\leq\int \left|f(x)\right|^2\,dx \cdot \int\left|g(x)\right|^2\,dx.$$

Một dạng tổng quát của hai bất đẳng thức ở phần này là bất đẳng thức Holder.

Một hệ quả khác, đó là bất đẳng thức Schwarz hay cũng được nhiều tài liệu gọi là bất đẳng thức Cauchy Schwarz $$ \dfrac {(a_1 + a_2 + ...+a_{n-1}+ a_n)^2}{b_1 + b_2 + ..+ b_{n-1} + b_n} \leq \dfrac {a_1^2}{b_1} + \dfrac {a_2^2}{b_2} +...+ \dfrac {a_{n-1}^2}{b_{n-1}} + \dfrac {a_n^2}{b_n}.$$

13) bất đẳng thức Cauchy, nước ngoài gọi là bất đẳng thức AM-GM. Bất đẳng thức này so sánh giữa trung bình cộng và trung bình nhân của $n$ số thực không âm được phát biểu như sau:
Trung bình cộng của n số thực không âm luôn lớn hơn hoặc bằng trung bình nhân của chúng, và trung bình cộng chỉ bằng trung bình nhân khi và chỉ khi n số đó bằng nhau.

*Với 2 số:

$$\dfrac{a+b}{2} \geq \sqrt{ab}$$

Đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi $a = b$

*Với $n$ số:

$$\dfrac{x_1 + x_2 + ... + x_n}{n} \geq \sqrt[n]{x_1.x_2. ... .x_n}$$

Đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi $ x_1 = x_2 = ... = x_n\,$

CÁC ĐÓNG GÓP KHÁC CỦA CAUCHY

14) Định lý Cauchy – Hadamard trong giải tích phức
Xét chuỗi lũy thừa biến số phức

$$f(z) = \sum_{n = 0}^{\infty} c_{n} (z-a)^{n}$$

Trong đó $a,c_n\in\mathbb{C}.$
Khi đó bán kính hội tụ của f tại a là

$$\dfrac{1}{R} = \limsup_{n \to \infty} \big( | c_{n} |^{1/n} \big)$$

P/S: Thật ra định lý này cũng thuộc đóng góp về lý thuyết chuỗi

15) Phương trình vi phân Cauchy–Riemann trong giải tích phức, còn gọi là định lý Cauchy–Riemann.

16) Định lý Cauchy trong lý thuyết nhóm

17) Định lý Cauchy trong hình học
.
18) Phân phối Cauchy – Lorenz trong xác suất thống kê

19) phương trình hàm Cauchy Là phương trình có dạng:

$$f(x + y) = f(x) + f(y)$$

20) Giá trị chính Cauchy của tích phân
*

$$\lim_{\varepsilon\rightarrow 0+} \left[\int_a^{b-\varepsilon} f(x)\,dx+\int_{b+\varepsilon}^c f(x)\,dx\right]$$

Trong đó $b$ là điểm thỏa mãn

$$\int_a^b f(x)\,dx=\pm\infty$$

(với bất kỳ $a < b$) và

$$\int_b^c f(x)\,dx=\mp\infty$$

(với bất kỳ $c > b$)

**:

$$\lim_{a\rightarrow\infty}\int_{-a}^a f(x)\,dx$$

Trong đó

$$\int_{-\infty}^0 f(x)\,dx=\pm\infty$$



$$\int_0^\infty f(x)\,dx=\mp\infty$$

21) Tích Cauchy của hai dãy số $\textstyle (a_n)_{n\geq0}$, $\textstyle (b_n)_{n\geq0}$, là dãy số $\textstyle (c_n)_{n\geq0}$ cho bởi công thức

$$c_n=\sum_{k=0}^n a_k b_{n-k}.$$

Theo wikipedia